CÁC GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

Khi tham gia giao kết hợp đồng, tiến độ thực hiện hợp đồng là vấn đề mà các bên rất quan tâm. Bởi một số loại hợp đồng chỉ cần ký kết và thực hiện chỉ trong một lần, một ngày nhất định như mua hàng hóa ngay tại cửa tiệm. Nhưng có những hợp đồng phải cần một thời gian dài để thực hiện, chia thành nhiều đợt thanh toán. Ví dụ: hợp đồng thi công xây dựng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vì thế, bài viết này sẽ tập trung về việc quy định của pháp luật cũng như thỏa thuận thực tế mà các bên áp dụng khi giao kết hợp đồng.

1. Cơ sở pháp lý

– Bộ luật dân sự 2015

– Luật xây dựng 2014

– Nghị định 37/2015/NĐ-CP về hướng dẫn hợp đồng xây dựng.

– Thông tư 09/2016/TT-BXD hướng dẫn hợp đồng thi công xây dựng công trình do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành ngày 10/3/2016.

– Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT ngày 26/10/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.

2. Nội dung

2.1. Quy định chung về các giai đoạn thực hiện hợp đồng

Do bản chất của bộ luật dân sự đó là  việc dân sự cốt ở hai bên. Thế nên, nhà làm luật không bắt buộc về thời hạn thực hiện hợp đồng. Cho nên, nhà làm luật chỉ ban hành những văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh một số loại hợp đồng đặc thừ như xây dựng hay đất đai. Tuy nhiên, việc thực hiện hợp đồng cũng được xem như là thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Tại điều 278 của BLDS có quy định về thời gian thực hiện nghĩa vụ

Điều 278. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ

  1. Thời hạn thực hiện nghĩa vụ do các bên thỏa thuận, theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
  2. Bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.

Trường hợp bên có nghĩa vụ đã tự ý thực hiện nghĩa vụ trước thời hạn và bên có quyền đã chấp nhận việc thực hiện nghĩa vụ thì nghĩa vụ được coi là đã hoàn thành đúng thời hạn.

  1. Trường hợp không xác định được thời hạn thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại khoản 1 Điều này thì mỗi bên có thể thực hiện nghĩa vụ hoặc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ vào bất cứ lúc nào nhưng phải thông báo cho bên kia biết trước một thời gian hợp lý.

Thời hạn và tiến độ thực hiện hợp đồng là một điều mà các bên rất quan tâm khi  giao kết hợp đồng. Do đó, khoản 3 của điều 278 rất khó có thể xảy ra. Còn việc yêu cầu thực hiện trước thời hạn yêu cầu thì phải dựa vào sự đồng ý của bên còn lại. Ví dụ: A ký hợp đồng giao 210 tấn gạo cho công ty B, giao thành 3 đợt như nhau, ghi thời gian cụ thể, giao tiền ngay khi kiểm tra và nhận hàng. Tuy nhiên, nhận thấy đã sắp xếp được kho bãi và tiền để thanh toán thì B có quyền đề nghị A giao dồn đợt 3 vào đợt 2 luôn. Nếu như A đồng ý.

Có một số hợp đồng đặt thù liên quan đến xây dựng, đất đai, nhà ở thì nhà làm luật cũng quy định những văn bản quy phạm pháp luật để gợi ý cho các bên về tiến độ trong quá trình ký kết hợp đồng.

2.2. Tiến độ thực hiện trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Không có bất kỳ văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể và bắt buộc về tiến độ thực hiện hợp đồng đối với loại hợp đồng này. Nên thời gian là do hai bên thỏa thuận với nhau.

Đối với việc các cá nhân tiến hành giao kết hợp đồng với nhau thì thông thường đất đã có sổ đổ  tức là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Nên việc thực hiện hợp đồng không kéo dài lâu.

Bước 1: Hai bên sẽ tiến hành ký hợp đồng đặt cọc với giá trị tùy ý. Do điều 328 quy định về đặt cọc như sau

Điều 328. Đặt cọc

  1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Bước 2: Chuẩn bị các giấy tờ cần thiết để đến công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, giai đoạn này bên mua sẽ giao cho bên bán từ 50 tới 80% giá trị hợp đồng tùy vào thỏa thuận.

Bước 3: Sau khi được nhận sổ đỏ thì bên mua sẽ trả nốt số tiền còn lại.

Tất cả các giai đoạn này thường chỉ mất khoảng 1 tháng, do theo quy định tại điều 61 của nghị đinh 01/2017/NĐ-CP điều chỉnh Luật đất đai 2014 thì thủ tục chuyển nhượng chỉ mất 10 ngày.

Điều 61. Thời gian thực hiện thủ tục hành chính về đất đai

  1. Thời gian thực hiện thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất; cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận được quy định như sau:
  2. l) Chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, đăng ký góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất là không quá 10 ngày;

Đối với trường hợp cá nhân hoặc công ty mua đất của công ty kinh doanh bất động sản thì thủ tục và thời gian chờ đợi sẽ lâu hơn do còn phải chờ thẩm định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Có thể kéo dài từ 4 đến 8 tháng.

2.3. Tiến độ thực hiện hợp đồng trong xây dựng

Khi thực hiện hợp đồng xây dựng thì tiến độ là một trong những vai trò quyết định danh tiếng của nhà thầu. Tuy nhiên, do các công trình xây dựng ảnh hưởng lớn tình hình kinh tế-chính trị và xã hội nên các nhà làm luật ban hành rất nhiều nghị định và thông tư để chỉnh trong lĩnh vực này. Có những điều khoản mà các bên khi tham gia ký kết hợp đồng phải đọc trước để tuân theo.

Về tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng thì khoản 8, Điều 5 Thông tư số 10/2015/TT-BKHĐT ngày 26/10/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư ghi nhận khái niệm về thời gian thực hiện hợp đồng như sau:

Điều 5. Phương thức lựa chọn nhà thầu:

  1. Thời gian thực hiện hợp đồng:

“Thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực đến ngày các bên hoàn thành nghĩa vụ theo quy định trong hợp đồng, trừ thời gian thực hiện nghĩa vụ bảo hành (nếu có).

Thời gian thực hiện hợp đồng cần phù hợp với tiến độ thực hiện dự án. Trường hợp gói thầu gồm nhiều phần riêng biệt thì quy định cụ thể thời gian thực hiện hợp đồng cho từng phần.

Như vậy, ngay cả xây dựng là một lĩnh vực rất cần sự thực hiện hợp đồng đúng tiến độ thì cũng quy định là các bên có thể tự xem xét sự phù hợp với tiến độ thực hiện dự án.

Tại điều 14 của nghị đinh 37/2015 về hướng dẫn  hợp đồng xây dựng quy định về thời gian như sau:

Điều 14. Thời gian và tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng

  1. Thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực cho đến khi các bên đã hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng xây dựng đã ký.
  2. Bên nhận thầu có trách nhiệm lập tiến độ chi tiết thực hiện hợp đồngtrình bên giao thầu chấp thuận để làm căn cứ thực hiện.
  3. Tiến độ thực hiện hợp đồng phải thể hiện các mốc hoàn thành, bàn giao các công việc, sản phẩm chủ yếu.
  4. Đối với hợp đồng thi công xây dựng của gói thầu có quy mô lớn, thời gian thực hiện dài, thì tiến độ thi công có thể được lập cho từng giai đoạn.
  5. Đối với hợp đồng cung cấp thiết bị, tiến độ cung cấp thiết bị phải thể hiện các mốc bàn giao thiết bị, trong đó có quy định về số lượng, chủng loại thiết bị cho từng đợt bàn giao.
  6. Đối với hợp đồng EPC, hợp đồngchìa khóatrao tay, ngoài tiến độ thi công cho từng giai đoạn còn phải lập tiến độ cho từng loại công việc (lập dự án, thiết kế, cung cấp thiết bị và thi công xây dựng).
  7. Khuyến khích việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện hợp đồng trên cơ sở bảo đảm chất lượng sản phẩm của hợp đồng. Trường hợp đẩy nhanh tiến độ đem lại hiệu quả cao hơn cho dự án thì bên nhận thầu được xét thưởng theo thỏa thuận trong hợp đồng.
  8. Việc điều chỉnh tiến độ của hợp đồng được thực hiện theo quy định tại Điều 39 Nghị định này.

Như vậy, tùy vào quy mô của dự án mà các bên có thể có những giai đoạn cam kết thanh toán và hoàn thành tiến độ thi công khác nhau. Trong xây dựng, sau khi đã ký kết hợp đồng và thực hiện sẽ phát sinh những điều kiện bất khả kháng mà các bên không mong muốn làm chậm tiến độ thi công. Tại điều 39 của nghị định 37/2015 quy định về điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng như sau:

Điều 39. Điều chỉnh tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng

  1. Trong hợp đồng xây dựng các bên phải thỏa thuận về các trường hợpđược điều chỉnh tiến độ. Trường hợp thời hạn hoàn thành chậm hơn so với tiến độ của hợp đồng, các bên phải xác định rõ trách nhiệm của mỗi bên đối với những thiệt hại do chậm tiến độ gây ra.
  2. Tiến độ thực hiện hợp đồng được điều chỉnh trong các trường hợp sau:
  3. a) Do ảnh hưởng của động đất, bão, lũ, lụt, sóng thần, hỏa hoạn, địch họa hoặc các sự kiện bất khả kháng khác.
  4. b) Thay đổi, điều chỉnh dự án, phạm vi công việc, thiết kế, biện pháp thi công theo yêu cầu của bên giao thầu làm ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện hợp đồng.
  5. c) Do việc bàn giao mặt bằng không đúng với các thỏa thuận trong hợp đồng, tạm dừng hợp đồng do lỗi của bên giao thầu, các thủ tục liên quan ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện hợp đồng xây dựng mà không do lỗi của bên nhận thầu gây ra.
  6. d) Tạm dừng thực hiện công việc theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà không do lỗi của bên giao thầu gây ra.
  7. Khi điều chỉnh tiến độ hợp đồngkhông làm kéo dài tiến độ thực hiện hợp đồng (bao gồm cả thời gian được kéo dài tiến độ thực hiện hợp đồng theo quy định của hợp đồng xây dựng) thì chủ đầu tư và nhà thầu thỏa thuận, thống nhất việc điều chỉnh. Trường hợp điều chỉnh tiến độ làm kéo dài tiến độ thực hiện hợp đồng thì chủ đầu tư phải báo cáo Người có thẩm quyền quyết định đầu tư xem xét, quyết định.

Ví dụ: A ký hợp đồng với B để thuê B xây dựng nhà ở của mình trong vòng 3 tháng, tuy nhiên đợt xây dựng đó lại vào mùa mưa, thế nên công trình không thể tiếp tục như dự kiến, mưa khoảng 10 ngày. B có thể yêu cầu A ký hợp đồng phụ lục để thêm 10 ngày theo hợp đồng ký kết ban đầu. Trong trường hợp này là do điều kiện bất khả kháng nên thỏa thuận này là không trái với quy định của pháp luật.

Hợp đồng xây dựng có rất nhiều loại hợp đồng và có tính chất phức tạp nên chúng tôi sẽ có những phân tích và bình luận sâu sắc hơn trong chuyên mục bình luận về hợp đồng xây dựng.

Tóm lại, tiến độ thực hiện hợp đồng sẽ do các bên thỏa thuận với nhau. Tuy nhiên, một số loại hợp đồng như hợp đồng xây dựng cũng phải tuân theo những quy định của pháp luật về xây dựng vì nó có rất nhiều vấn đề có thể phát sinh từ công trình gây ra ảnh hưởng đến sự quản lý của cơ quan nhà nước.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THỜI ĐIỂM CHUYỂN GIAO RỦI RO TRONG MUA BÁN HÀNG HÓA

Khi tham gia ký kết hợp đồng về việc mua bán hàng hóa thì ngoài việc giao hàng thì thời điểm chuyển giao rủi ro do hàng hóa mang lại giữa các bên  cũng là điều khoản vô cùng quan trọng. Nắm bắt nhu cầu đó, công ty luật chúng tôi xin gửi đến quý khách những phân tích liên quan đến việc chuyển giao rủi ro.

1. Cơ sở pháp lý

– Luật thương mại 2005

2. Nội dung

Việc chuyển giao rủi ro do hàng hóa mang lại rất quan trọng nên tại điều 57 đến điều 61 của Luật thương mại 2005 quy định rất kỹ về vấn đề này.

2.1. Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định

Ví dụ: công ty A ký hợp đồng để mua 210 tấn Nho mỹ từ công ty B để bán lẻ đến các kênh chợ.Trong điều khoản hai bên có thỏa thuận là A sẽ đến kho của công ty B để kiểm tra hàng, nếu hàng đúng với chất lượng và số lượng như trong hợp đồng thì B sẽ cho xe tải để vận chuyển hàng về kho của A sau khi A tiến hành tới kiểm hàng.

Điều 57. Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho bên mua hoặc người được bên mua uỷ quyền đã nhận hàng tại địa điểm đó, kể cả trong trường hợp bên bán được uỷ quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hoá.

Như vậy, áp dụng điều 57 thì rủi ro do hàng hóa gây ra đã được chuyển giao cho A kể từ khi A đồng ý cho xe của B vận chuyển về kho chứa của mình.

2.2. Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định

Tại điều 58 của luật thương mại quy định

Điều 58. Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hoá và bên bán không có nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên.

Cũng trong tình huống trên thì sau khi đến kiểm hàng, A đã thỏa thuận trong hợp đồng là sẽ thông báo về địa điểm sau. Sau đó một ngày, A gửi mail để yêu cầu B giao hàng ở kho của công ty C (A thuê kho của công ty C) thì thời điểm chuyên giao rủi ro từ B sang A sẽ là khi B hoàn tất việc giao hàng tại kho của C.

2.3. Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển

Tại điều 59 của luật thương mại quy định

Điều 59. Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hàng hoá đang được người nhận hàng để giao nắm giữ mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  1. Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá;
  2. Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua.

Ví dụ: Trong trường hợp trên, công ty B thuê dịch vụ vận chuyển của công ty C để giao hàng cho A. Thì những rủi ro như: nho bị dập khi vận chuyển, nho bị rơi rớt trên đường vận chuyển sẽ vẫn thuộc về công ty B cho đến khi đại diện của công ty A hoặc người được ủy quyền nhận hàng, tiến hành ký nhận hàng.

2.4. Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá đang trên đường vận chuyển

Điều 60. Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá đang trên đường vận chuyển

Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hoá đang trên đường vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng.

Ví dụ: Cũng từ ví dụ trên, nho mà hai bên ký kết phải vận chuyển từ Mỹ, khi hai bên đã thống nhất ngày giao hàng thì cửa khẩu cuối cùng bị cấm nhập cảnh, công ty C tại nước sở tại biết được thông tin nên đã chủ động mua lô hàng với giá cao hơn. Do hàng không thể nhập được và B cũng đã báo trước cho A điều này nên hai bên chấp nhận hủy hợp đồng. Trường hợp này thì C sẽ phải chịu rủi ro kể từ khi ký kết hợp đồng với B

Vì vậy, cần xác định sự khác nhau giữa việc hàng hóa đang trên đường vận chuyển với hàng hóa đã được mua và vận chuyển sau khi ký hợp đồng.

2.5. Một số quy định khác

Điều 61. Chuyển rủi ro trong các trường hợp khác

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc chuyển rủi ro trong các trường hợp khác được quy định như sau:

  1. Trong trường hợp không được quy định tại các điều 57, 58, 59 và 60 của Luật này thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng;
  2. Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá không được chuyển cho bên mua, nếu hàng hoá không được xác định rõ ràng bằng ký mã hiệu, chứng từ vận tải, không được thông báo cho bên mua hoặc không được xác định bằng bất kỳ cách thức nào khác.

Như vậy, chỉ cần căn cứ vào 2 điều khoản này để xác định thời điểm chuyển giao rủi ro đối với những trường hợp còn lại. Nhà làm luật cũng quy định rất cụ thể về việc khi nào thì các bên sẽ phải chịu rủi ro một cách cụ thể nhất. Hai bên cần có một giao kết nhận hàng bằng văn bản để tránh tranh chấp diễn ra sau này.

Tóm lại, việc xác định thời điểm nào rủi ro được chuyển giao là rất quan trọng vì nó sẽ hạn chế được việc các bên đem nhau ra tòa khi hàng hóa xảy ra khiếm khuyết hoặc hư hỏng. Các bên nếu không có thỏa thuận, có thể dựa vào luật thương mại để biết là mình đang sai hay đúng. Trên đây là toàn bộ tư vấn của Luật Minh Mẫn chúng tôi liên quan đến vấn đề chuyển rủi ro. Những điều trên áp dụng cho giao lưu buôn bán trong nước hoặc có yếu tố nước ngoài mà các bên thống nhất chọn luật Việt Nam để điều chỉnh. Những quy định về chuyển giao rủi ro có tính quốc tế và phức tạp hơn sẽ có ở những bài viết sau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những lưu ý về điều khoản giao hàng khi giao kết hợp đồng

Khi tham gia ký kết hợp đồng về việc mua bán hàng hóa thì điều khoản giao hàng là một trong những điều khoản vô cùng quan trọng. Nắm bắt nhu cầu đó, công ty luật chúng tôi xin gửi đến quý khách những phân tích liên quan đến điều khoản giao hàng.

1. Cơ sở pháp lý

– Luật thương mại 2005

2. Nội dung

2.1. Những vấn đề liên quan đến giao hàng

Tại khoản 8 – điều 3 của Luật thương mại 2005 quy định:

Điều 3. Giải thích từ ngữ

  1. Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.

Từ khái niệm trên, luật thương mại đã quy định rạch ròi về nghĩa vụ giao hàng của bên bán và nghĩa vụ thanh toán của bên mua khi hai bên giao kết hợp đồng

Điều 34. Giao hàng và chứng từ liên quan đến hàng hóa

  1. Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng.
  2. Trường hợp không có thỏa thuận cụ thể, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và chứng từ liên quan theo quy định của Luật này.

Như vậy, luật thương mại quy định bên bán cần phải giao đầy đủ hàng hóa và các chứng từ liên quan trong hợp đồng cho bên mua

Tuy nhiên, địa điểm và thời gian giao hàng là rất quan trọng.

Tại điều 35 của luật thương mại quy định như sau:

Điều 35. Địa điểm giao hàng

1. Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm đã thoả thuận.

2. Trường hợp không có thoả thuận về địa điểm giao hàng thì địa điểm giao hàng được xác định như sau:

a) Trường hợp hàng hoá là vật gắn liền với đất đai thì bên bán phải giao hàng tại nơi có hàng hoá đó;

b) Trường hợp trong hợp đồng có quy định về vận chuyển hàng hoá thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên;

c) Trường hợp trong hợp đồng không có quy định về vận chuyển hàng hoá, nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng, các bên biết được địa điểm kho chứa hàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hoá thì bên bán phải giao hàng tại địa điểm đó;

d) Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh của bên bán, nếu không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư trú của bên bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng mua bán.

Như vậy, một lần nữa luật thương mại lại thể hiện những nội dung trong hợp đồng sẽ được do hai bên thỏa thuận. Chỉ trong trường hợp các bên không thể xác định được nơi giao hàng thì các bên mới tham khảo các quy định của luật thương mại. Đa phần các gợi ý đều xác định địa điểm giao hàng là nơi sản xuất, chế tạo hàng hóa hoặc nơi cứ trú của bên bán. Điều này theo đánh giá của chúng tôi là hợp lý vì đây là nơi sản xuất và chưa đựng hàng hóa nên nếu có xảy ra tranh chấp thì có thể dễ dàng thu thập chứng cứ.

Còn ở điểm b, khoản 2 thì có nghĩa rằng: Nếu A là bên bán giao hàng cho B, B thuê C là công ty vận chuyển hàng hóa và ghi nhận trong hợp đồng thì A sẽ chuyển  giao hàng cho C. Còn việc B và C có thỏa thuận để thuê thêm bên nào vận chuyển hàng hóa hay không thì A không cần quan tâm.

Còn về thời hạn giao hạn giao hàng thì tại điều 37 của Luật thương mại 2005 có quy định về điều đó như sau:

Điều 37. Thời hạn giao hàng

  1. Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng.
  2. Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua.
  3. Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng.

Các bên được tự do thỏa thuận thời gian, nếu bên bán hoặc bên mua có một số vấn đề về tài chính hoặc vận chuyển khi hàng hóa đã được chuẩn bị thì các bên được tự chọn khoản thời gian, bên bán chỉ cần thông báo trước trong khoản thời gian đó để bên mua chuẩn bị phương tiện vận chuyển, nhân viên và tiền để nhận hàng.

Còn về một thời hạn hợp lý thì còn tùy thuộc vào khoảng cách địa lý giữa hai bên, tốc độ sản xuất hàng hóa thường lệ của bên bán. Ví dụ: A đặt B để mua 100 chiếc xe đạp, B sản xuất trung bình 30 chiếc mỗi ngày thì ngày giao hàng có thể là ngày thứ 5 kể từ khi hai bên ký kết hợp đồng nếu như hai bên không có thỏa thuận về thời điểm giao hàng. Nếu A và B có thỏa thuận về thời gian giao hàng mà B giao trước thời hạn thì cần phải tuân theo quy định tại điều 38 của luật thương mại

Điều 38. Giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận

Trường hợp bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu các bên không có thoả thuận khác.

Trường hợp này có thể xảy ra khi B sản xuất xong 100 chiếc xe trước thời hạn và thấy nên giải quyết hợp đồng với A để có thời gian giải quyết những hợp đồng khác. Nhưng nó sẽ ảnh hưởng đến khả năng tài chính, người vận chuyển, kho chứa hàng của A nên nếu không có thỏa thuận thì luật chỉ cho phép B giao trước nếu được A đồng ý.

2.2. Những điều lưu ý khi nhận hàng

2.2.1. Hàng hoá không phù hợp với hợp đồng

Luật thương mại cũng quy định cụ thể về vấn đề này tại điều 39 như sau:

Điều 39. Hàng hoá không phù hợp với hợp đồng

1. Trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể thì hàng hoá được coi là không phù hợp với hợp đồng khi hàng hoá đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng chủng loại;

b) Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;

c) Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã giao cho bên mua;

d) Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường.

 

2. Bên mua có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hoá không phù hợp với hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Ví dụ: A ký hợp đồng để mua 1000 quyển sách kỹ năng từ B. Tới ngày giao hàng B vẫn giao đúng 1000 quyển, nhưng qua kiểm tra A phát hiện tới 500 quyển sách là sách phô tô và được đặt ở hàng cuối cùng của lô hàng. Trong tình huống này A có quyền từ chối chối nhận hàng.

+ Trách nhiệm đối với hàng hoá không phù hợp với hợp đồng:

Tại điều 40 luật thương mại quy định

Điều 40. Trách nhiệm đối với hàng hoá không phù hợp với hợp đồng

Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, trách nhiệm đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được quy định như sau:

  1. Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết về những khiếm khuyết đó;
  2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trong thời hạn khiếu nại theo quy định của Luật này, bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua, kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro;
  3. Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phát sinh sau thời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán vi phạm hợp đồng.

Quy định này sẽ được áp dụng nếu hai bên không có thỏa thuận để xử lý. Vậy là nếu như bên mua không được biết hoặc phải biết về những khiếm khuyết của hàng hóa thì bên bán phải chịu hoàn toàn trách nhiệm, kể cả khi thời điểm chuyển giao rủi ro cho bên mua. Quy định này là rất hợp lý vì nó đòi hỏi không những tính trung thực, thiện chí của bên bán mà còn đòi hỏi cả sự cẩn thận và chu đáo khi tham gia ký kết hợp đồng.

+ Biên pháp khắc phục:

Tại điều 41 quy định về khắc phục trong trường hợp giao thiếu hàng, giao hàng không phù hợp với hợp đồng như sau:

Điều 41. Khắc phục trong trường hợp giao thiếu hàng, giao hàng không phù hợp với hợp đồng

  1. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu hợp đồng chỉ quy định thời hạn giao hàng và không xác định thời điểm giao hàng cụ thể mà bên bán giao hàng trước khi hết thời hạn giao hàng và giao thiếu hàng hoặc giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì bên bán vẫn có thể giao phần hàng còn thiếu hoặc thay thế hàng hoá cho phù hợp với hợp đồng hoặc khắc phục sự không phù hợp của hàng hoá trong thời hạn còn lại.
  2. Khi bên bán thực hiện việc khắc phục quy định tại khoản 1 Điều này mà gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó.

Như vậy biện pháp khắc phục này cũng tạo điều kiện cho bên bán được khắc phục hậu quả nếu như bên bán giao hàng trước khi hết hạn hợp đồng nhưng cũng phải chịu chi phí phát sinh gây ra cho bên mua.

2.2.2. Giao thừa hàng

Tại điều 43 của luật thương mại quy định như sau:

Điều 43. Giao thừa hàng

  1. Trường hợp bên bán giao thừa hàng thì bên mua có quyền từ chối hoặc chấp nhận số hàng thừa đó.
  2. Trường hợp bên mua chấp nhận số hàng thừa thì phải thanh toán theo giá thoả thuận trong hợp đồng nếu các bên không có thoả thuận khác.

Vậy nếu giao thừa hàng thì việc nhận hàng là quyền của bên mua, bên mua không có trách nhiệm với số hàng thừa ấy. Còn về giá cả thì sẽ thanh toán theo giá thỏa thuận trong hợp đồng.

2.2.3. Kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng

Việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng là rất quan trọng, bước này nếu làm kỹ lưỡng sẽ hạn chế những tranh chấp giữa hai bên sau khi nhận hàng. Thế nên, luật thương mại cũng dành hẳn một điều để bàn về việc này. Các bên có thể đem điều luật này vô làm một điều khoản cho hợp đồng của mình.

Điều 44 của luật thương mại về kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng

Điều 44. Kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng

  1. Trường hợp các bên có thoả thuận để bên mua hoặc đại diện của bên mua tiến hành kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng thì bên bán phải bảo đảm cho bên mua hoặc đại diện của bên mua có điều kiện tiến hành việc kiểm tra.
  2. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên mua hoặc đại diện của bên mua trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phải kiểm tra hàng hóa trong một thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép; trường hợp hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hóa thì việc kiểm tra hàng hoá có thể được hoãn lại cho tới khi hàng hoá được chuyển tới địa điểm đến.
  3. Trường hợp bên mua hoặc đại diện của bên mua không thực hiện việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng theo thỏa thuận thì bên bán có quyền giao hàng theo hợp đồng.
  4. Bên bán không phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã biết hoặc phải biết nhưng không thông báo cho bên bán trong thời hạn hợp lý sau khi kiểm tra hàng hoá.
  5. Bên bán phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hoá không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua.

Như vậy, bên mua thậm chí có quyền kiểm tra hàng hóa trước cả thời điểm giao hàng.

Ví dụ: Công ty A ký hợp đồng mua 210 tấn cà phê với công ty B thì công ty A có thể đến công ty để kiểm tra chất lượng của 210 tấn cà phê này ngay tại công ty B nếu như công ty B đồng ý. Điều này sẽ giúp cho A có sự kiểm tra thực tế hơn về chất lượng và số lượng mà lô hàng mình sẽ nhận sắp tới.

Tuy nhiên, dựa ở quy định trên thì nếu A đã thuê chuyên gia riêng để đến kiểm định mà đến ngày giao, chất lượng hàng hóa không đổi thì nếu có khiếm khuyết xảy ra mà được xác định không phải lỗi của bên B thì A sẽ phải chịu trách nhiệm cho sự khiếm khuyết đó. Ví dụ: phát hiện cà phê bị mốc mà vẫn cho qua.

Một điều mà bên mua cũng rất quan tâm. Đó là sự hợp pháp của hàng hóa mà mình nhận từ phía bên bán. Nên điều 45 cũng quy định về nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hóa như sau:

Điều 45. Nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hoá

Bên bán phải bảo đảm:

  1. Quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi bên thứ ba;
  2. Hàng hóa đó phải hợp pháp;
  3. Việc chuyển giao hàng hoá là hợp pháp

Tóm lại, có thể thấy việc giao nhận hàng không phải là một việc dễ dàng từ khâu ký hợp đồng, thời gian giao hàng, khâu kiểm tra cho đến tính hợp pháp của hàng hóa đó. Ngoài việc căn cứ vào những quy định của pháp luật, các bên còn phải sử dụng trí tuệ để vô hiệu hóa những rào cản cho mình ngay từ đầu, sử dụng những chuyên gia riêng để kiểm định hàng hóa. Đối với những hợp đồng có giá trị cao, quý khách nên liên hệ với luật Minh Mẫn chúng tôi để được tư vấn và soạn thảo hợp đồng sao cho chặt chẽ nhất.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Các phương thức để bảo hành đối tượng của hợp đồng

Ngày nay, hoạt động kinh doanh hàng hóa và dịch vụ ngày càng phát triển. Các sản phẩm ngày càng hiện đại, mẫu mã đa dạng. Tuy nhiên, không ít các nhà sản xuất chỉ cốt yếu bán được hàng mà không bảo hành và hỗ trợ tận tâm cho khách hàng. Vì thế, bài viết này sẽ tập trung vào việc, dựa trên những kiến thức của pháp luật và thực tiễn thì quyền lợi được bảo hành của khách hàng được bảo vệ tới đâu.

1. Cơ sở pháp lý

– Bộ Luật Dân sự 2015

– Luật thương mại 2005

– Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010

– Luật Xây dựng 2014

– Luật Nhà ở 2014

– Nghị định 46/2015/NĐ- CP quy định về quản lý chất lượng bảo trì công trình xây dựng

– Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán…

– Nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt …

2. Nội dung

2.1. Khái niệm

Do có rất nhiều những loại hình, ngành nghề kinh doanh và dịch vụ như: mua bán hàng hóa, xây dựng nhà ở nên chưa có một khái niệm rõ ràng về bảo hành. Nên bảo hành có thể được hiểu là:

Bảo hành là cam kết của người bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ về việc sửa chữa hoặc thay thế miễn phí trong trường hợp hàng hoá hoặc dịch vụ, công trình bị hỏng hóc hoặc do lỗi kỹ thuật của nhà sản xuất, đơn vị thi công theo quy định cụ thể về điều kiện bảo hành trong một khoản thời gian được xác định.

2.2. Thời hạn bảo hành trong một số lĩnh vực

Khi giao kết bất kỳ loại hợp đồng nào liên quan đến việc một bên sẽ cung ứng hàng hóa, dịch vụ cho bên còn lại thì các bên có thể thỏa thuận về điều kiện và thời gian bảo hành trong hợp đồng. Tuy nhiên, nếu không có thỏa thuận thì sẽ áp dụng những quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ bảo hành được quy định tại điều 446 của bộ luật dân sự 2015

Điều 446. Nghĩa vụ bảo hành

Bên bán có nghĩa vụ bảo hành đối với vật mua bán trong một thời hạn, gọi là thời hạn bảo hành, nếu việc bảo hành do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Thời hạn bảo hành được tính kể từ thời điểm bên mua có nghĩa vụ phải nhận vật.

Như vậy, luật quy định nghĩa vụ bảo hành thuộc về bên bán trong một thời hạn nhất định. Đối với những loại sản phẩm hàng hóa thì thời gian bảo hành thông thường là 12 tháng. Một số phụ kiện có giá trị thấp cũng thường xuyên được bảo hành bằng lời nói khoảng 1 tuần. Khi mua ô tô thì theo chính sách của toyota, khách hàng sẽ được bảo hành 36 tháng hoặc 100.000 km, tùy vào điều kiện đến trước.

Đối với các công trình nhà ở thì có thể kéo dài hơn. Cụ thể, tại điều 85 của Luật nhà ở 2014 về bảo hành nhà ở như sau:

Điều 85. Bảo hành nhà ở

  1. Nhà ở được bảo hành kể từ khi hoàn thành việc xây dựng và nghiệm thu đưa vào sử dụng với thời hạn như sau:
  2. a) Đối với nhà chung cư thì tối thiểu là 60 tháng;
  3. b) Đối với nhà ở riêng lẻ thì tối thiểu là 24 tháng.

Về thời hạn bảo hành thì tùy vào tính chất của loại hàng hóa và đặc trưng của loại hàng hóa dịch vụ mà thời gian và chính sách khác nhau.

2.3. Một số quy định về nội dung bảo hành

Nghĩa vụ bảo hành là thuộc về bên bán nhưng bên mua cũng có quyền yêu cầu theo quy định tại điều 447 của bộ luật dân sự về quyền yêu cầu bảo hành

Điều 447. Quyền yêu cầu bảo hành

Trong thời hạn bảo hành, nếu bên mua phát hiện được khuyết tật của vật mua bán thì có quyền yêu cầu bên bán sửa chữa không phải trả tiền, giảm giá, đổi vật có khuyết tật lấy vật khác hoặc trả lại vật và lấy lại tiền.

Thêm vào đó tại điều 21 của luật bào vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 có quy định:

Điều 21. Trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện

Hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành theo thỏa thuận của các bên hoặc bắt buộc bảo hành theo quy định của pháp luật. Trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện được bảo hành, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm:

  1. Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện do mình cung cấp;
  2. Cung cấp cho người tiêu dùng giấy tiếp nhận bảo hành, trong đó ghi rõ thời gian thực hiện bảo hành. Thời gian thực hiện bảo hành không tính vào thời hạn bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện. Trường hợp tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới thì thời hạn bảo hành linh kiện, phụ kiện hoặc hàng hóa đó được tính từ thời điểm thay thế linh kiện, phụ kiện hoặc đổi hàng hóa mới;
  3. Cung cấp cho người tiêu dùng hàng hóa, linh kiện, phụ kiện tương tự để sử dụng tạm thời hoặc có hình thức giải quyết khác được người tiêu dùng chấp nhận trong thời gian thực hiện bảo hành;
  4. Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp hết thời gian thực hiện bảo hành mà không sửa chữa được hoặc không khắc phục được lỗi.
  5. Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp đã thực hiện bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện từ ba lần trở lên trong thời hạn bảo hành mà vẫn không khắc phục được lỗi;
  6. Chịu chi phí sửa chữa, vận chuyển hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đến nơi bảo hành và từ nơi bảo hành đến nơi cư trú của người tiêu dùng;
  7. Chịu trách nhiệm về việc bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện cho người tiêu dùng cả trong trường hợp ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc bảo hành.

Từ những quy định trên, nhà làm luật đã trực tiếp nhắn nhủ các nhà sản xuât và cung cấp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện cần phải bảo hành tận tâm và rõ ràng tới khách hàng. Từ khâu phải có giấy bảo hành ghi rõ thời hạn bảo hành, cho đến phải chịu toàn bộ chi phí sữa chữa và giao hàng, phải đổi hàng mới hoặc hoàn trả lại tiền nếu như sự bảo hành đó không thể thực hiện được.

Luật cũng quy định nghĩa vụ phải giải thích thông tin về nghĩa vụ bảo hành của bên bán dành cho bên mua. Tại điều 12 của luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dung 2010 quy định như sau:

Điều 12. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trong việc cung cấp thông tin về hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng

5. Cung cấp hướng dẫn sử dụng; điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ có bảo hành.

Tuy nhiên, thực tế không phải bên bán nào cũng thực hiện đúng như luật định. Tổng đài bảo vệ người tiêu dùng của Cục Quản lý cạnh tranh trong thời gian qua đã tiếp nhận một số khiếu nại của người tiêu dùng như sau, theo đó cơ sở bảo hành chỉ cung cấp giấy biên nhận sản phẩm và không ghi rõ thời gian hoàn thành việc sửa chữa với lý do phải chuyển sản phẩm về nhà máy để kiểm tra. Người tiêu dùng đã phải chờ đợi rất lâu nhưng không có sự phản hồi lại của cơ sở bảo hành. Khi điện hỏi cơ sở bảo hành thì họ chỉ trả lời là vẫn chưa có thông tin từ phía nhà máy và đề nghị người tiêu dùng tiếp tục chờ đợi. Rõ ràng, trong vụ việc này, phía cơ sở bảo hành đã vi phạm quy định về cung  cấp cho người tiêu dùng giấy bảo hành trong đó ghi rõ thời gian bảo hành được quy định tại Điều 21 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Về quy định cung cấp cho người tiêu dùng hàng hóa, linh kiện, phụ kiện tương tự để sử dụng tạm thời cũng không được nhiều doanh nghiệp áp dụng. Vì cái này sẽ làm tăng lên chi phí mua hàng dự trữ để cung cấp cho khách hàng khi tiến hành bảo hành. Dẫn đến đa số khách hàng phải mua một loại hàng hóa thay thế khác, tốn kém thêm chi phí. Đặc biệt, những khách hàng mua ô tô thì khi tiến hành bảo hành, họ phải bỏ tiền ra đi tắc-xi, không thể chủ động nên sẽ dẫn đến tâm lý không hài lòng cho khách hàng. Nên về lâu dài, bên bán cần phải cân nhắc giải pháp thay thế cho việc sản phẩm đang bị bảo hành không gây ảnh hưởng nhiều cho sinh hoạt của khách hàng.

Về quy định: Đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp đã thực hiện bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện từ 03 lần trở lên trong thời hạn bảo hành mà vẫn không khắc phục được lỗi hoặc trong trường hợp hết thời gian thực hiện bảo hành mà không sửa chữa được hoặc không khắc phục được lỗi. Đa số các nhà cung cấp hoặc bên bán không thực hiện đúng như quy định:

Có Anh A mua tủ lạnh ở một cửa hàng tiến hành bảo hành tới 4 lần khiến anh mấy nhiều thời gian, thậm chí có đến 3 lần ở cung một lỗi kỹ thuật là nhiệt độ không thay đổi sau khi vặn nút điều chỉnh. Mà lại đang trong thời hạn bảo hãnh nên bên phía bộ phận bảo hãnh của công ty không tiến hành đổi trả. Các bên cần lưu ý và làm theo những quy định này.

Tất cả những quy định trên đều đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ nên các bên cần chú ý để tuân theo những quy định trên.

2.4. Quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vục bảo hành

Chính phủ đã ban hành một Nghị định 185/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tại điều 75 quy định cụ thể về hành vi vi phạm về trách nhiệm bảo hành hàng hóa.

Điều 75. Hành vi vi phạm về trách nhiệm bảo hành hàng hóa

  1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với thương nhân kinh doanh hàng hóa có một trong các hành vi vi phạm sau đây trong trường hợp hàng hóa bảo hành có giá trị dưới 20.000.000 đồng:
  2. a) Không cung cấp cho người tiêu dùng giấy bảo hành, trong đó ghi rõ thời gian và điều kiện thực hiện bảo hành; đã Sửa đổi Điểm này tại nghị định 124/2015/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 185/2013/NĐ-CP thành“a) Không cung cấp cho người tiêu dùng Giấy tiếp nhận bảo hành trong đó ghi rõ thời gian thực hiện bảo hành”
  3. b) Không cung cấp cho người tiêu dùng hàng hóa, linh kiện, phụ kiện tương tự để sử dụng tạm thời hoặc không có hình thức giải quyết khác được người tiêu dùng chấp nhận trong thời gian thực hiện bảo hành;
  4. c) Không đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp hết thời gian thực hiện bảo hành mà không sửa chữa được hoặc không khắc phục được lỗi;
  5. d) Không đổi hàng hóa, linh kiện, phụ kiện mới tương tự hoặc thu hồi hàng hóa và trả lại tiền cho người tiêu dùng trong trường hợp đã thực hiện bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện từ 03 lần trở lên trong thời hạn bảo hành mà vẫn không khắc phục được lỗi;

đ) Không trả chi phí sửa chữa, vận chuyển hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đến nơi bảo hành và từ nơi bảo hành đến nơi cư trú của người tiêu dùng;

  1. e) Không thực hiện, thực hiện không đúng hoặc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện đã cam kết với người tiêu dùng;
  2. g) Từ chối trách nhiệm về việc bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện cho người tiêu dùng trong trường hợp đã ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc bảo hành.
  3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện liên quan có giá trị từ 20.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng.

  1. Phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này trong trường hợp hàng hóa, linh kiện, phụ kiện liên quan có giá trị từ 2.000.000.000 đồng trở lên.

Từ đó, có thể thấy, pháp luật đã quy định rõ về mức phạt cho những vi phạm tại điều 21 của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thấp nhất là 5 triệu đồng và cao nhất là 100 triệu đồng dựa trên giá trị vi phạm. Mức phạt này theo chúng tôi là đã đủ sức răng đe. Tuy nhiên, việc các cơ quan nhà nước có bảo vệ được người tiêu dùng hay không lại là chuyển khác. Do có rất nhiều tổ chức sản xuất và cung ứng hàng hóa, dịch vụ nên sự kiểm soát từ phía cơ quan công quyền là có giới hạn. Người tiêu dùng nên tự tìm hiểu về chính sách bảo hành của công ty để so sánh với những quy định pháp luật xem như thế nào.

2.5. Một số lời khuyên cho người tiêu dùng

Theo quy định tại điều 21 của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 thì việc bảo hành có thể có hoặc không. – – Nên người tiêu dùng cần phải xin giấy xác nhận về việc bảo hành cho sản phẩm khi tiến hành mua:

–  Yêu cầu nhà cung cấp sản phẩm cung cấp đầy đủ hóa đơn, chứng từ, tài liệu liên quan đến giao dịch mua bán.

– Đề nghị nhà cung cấp sản phẩm làm giấy chứng nhận bảo hành, sổ bảo hành hoặc hợp đồng bảo hành… (đối với sản phẩm được bảo hành) . Ở trên đó phải thông báo rõ ràng về điều kiện, thời hạn, địa điểm, thủ tục bảo hành.

– Yêu cầu nhà cung cấp sản phẩm cung cấp, giải thích hướng dẫn sử dụng sản phẩm, cảnh báo tính an toàn của sản phẩm, các biện pháp phòng ngừa, giải thích những lưu ý trong quá trình sử dụng sản phẩm để người tiêu dùng được hưởng dịch vụ bảo hành đầy đủ (đặc biệt giải thích về các mục không bao gồm trong bảo hành, các điều khoản để bảo hành có hiệu lực…).

– Đề nghị nhà cung cấp sản phẩm thông tin về khả năng cung ứng linh kiện thay thế trong tương lai. Hành động này nhằm tránh việc nhà cung cấp trong quá trình thực hiện nghĩa vụ bảo hành, lạm dụng lý do thiếu linh kiện thay thế để trì hoãn, kéo dài thời gian bảo hành hoặc ép buộc người tiêu dùng phải mua, lựa chọn linh kiện khác. Tuy nhiên, đối với yêu cầu này thì do luật cho phép sử dụng phương án thay thế nên người tiêu dùng có thể lắng nghe phương án thay thế từ phía nhà cung cấp sản phẩm.

Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về bảo hành trong hợp đồng. Tiêu biểu là trong hợp đồng mua bán hàng hóa, linh kiện, phụ kiện. Đối với các bên khi giao kết hợp đồng cần tính toán kỹ lưỡng, tham khảo những quy định của pháp luật về bảo hành để đưa vào các điều khoản của hợp đồng. Đối với người cung cấp sản phẩm không được làm trái những quy định của pháp luật, còn đối với người tiêu dùng thì phải cẩn trọng và yêu cầu những điều cần thiết theo luật định để tránh bị lợi dụng sự không hiểu biết từ phía người cung cấp sản phẩm. Những bài viết về bảo hành cho từng loại hợp đồng sẽ có ở những kỳ sau. Cảm ơn các qúy đọc giả đã đọc.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

THỎA THUẬN CÓ PHẢI LÀ PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU CHỈNH HỢP ĐỒNG DUY NHẤT?

Khi tham gia giao kết hợp đồng thì các bên luôn trong tư thế thiện chí để thỏa thuận cùng nhau. Tuy nhiên, không phải thỏa thuận nào cũng sẽ được pháp luật bảo vệ, không phải thỏa thuận nào cũng được pháp luật cho phép. Vì thế, các bên cần lưu ý về việc hợp đồng mà các bên đang ký kết phải dựa trên những quy định của pháp luật. Bài viết này sẽ bàn về những phương pháp điều chỉnh của pháp luật.

1. Cơ sở pháp lý

– Bộ Luật dân sự 2015

– Luật thương mại 2005

2. Nội dung

Những phương pháp được sử dụng để điều chỉnh hợp đồng đó là:

– Thỏa thuận tự do

– Những văn bản quy phạm pháp luật

– Áp dụng tập quán

– Áp dụng tương tự pháp luật

2.1. Phương pháp thỏa thuận bình đẳng

Tại điều 385 của bộ luật dân sự 2015 quy đinh khái niệm về hợp đồng

Điều 385. Khái niệm hợp đồng

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Thậm chí, về hình thức thì theo điều 119 quy định về hình thức của giao dịch dân sự cũng cho phép các bên có thể lựa chọn nhiều hình thức để giao kết

Điều 119. Hình thức giao dịch dân sự

  1. Giao dịch dân sự được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể.

Giao dịch dân sự thông qua phương tiện điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử được coi là giao dịch bằng văn bản.

  1. Trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó.

Như vậy, các bên có quyền thỏa thuận về loại hợp đồng và nội dung về hợp đồng. Tùy thuộc vào đối tượng được lựa chọn để giao kết

Ví dụ: một bên cần xây dựng chung cư thì bên còn lại đáp ứng toàn bộ quá trình. Hai bên sẽ ký hợp đồng chìa khóa trao tay. Một bên cần tiền, bên còn lại có nhu cầu lấy lãi từ đồng tiền của mình, thế là hai bên ký kết với nhau hợp đồng vay tiền.

Nói chung, các bên có quyền tự do thỏa thuận với nhau

2.2. Phương pháp áp dụng những quy định của pháp luật

Tuy nhiên, tại điều 385 quy định về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự

  1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.
  2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.
  3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.
  4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.
  5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Như vậy, dù là việc dân sự cốt ở hai bên. Tuy nhiên, chúng ta cần phải ghi nhận là mọi sự thỏa thuận nó phải không trái với điều cấm của luật. Ví dụ: hai bên không thể ký kết hợp để mua ma túy vì bộ luật hình sự xem việc mua bán trái phép chất ma túy là tội phạm (điều 251 Bộ luật hình sự).

 

Các bên cũng không được thỏa thuận những điều trái với đạo đức xã hội. Ví dụ: A ký hợp đồng để bán con cho B với giá 20 triệu đồng.

Cho nên ngoài việc áp dụng nguyên tắc thỏa thuận, các bên còn chịu sự điều chỉnh của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật

+ Luật (ví dụ: Bộ luật dân sự 2015)

+ Nghị định (Nghị định 44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất)

+ Thông tư

+ Công Văn

+ Quyết định

Các thỏa thuận nếu trái với các quy định này có thể bị tuyên là vô hiệu nếu xảy ra tranh chấp. Ngoài ra, nếu vi phạm điều cấm, mà thực hiện điều cấm đó thì có thể bị xử phạt hành chính (Nghị định 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai) hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.

2.3. Áp dụng tập quán pháp

Về khái niệm, tại điều 5 của BLDS

Điều 5. Áp dụng tập quán

  1. Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự.
  2. Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.

Người xưa có câu “Phép vua thua lệ làng”. Thế nên, việc bộ luật dân sự cho phép áp dụng tập quán pháp là phù hợp với tình hình xã hội ở Việt Nam ta. Đặc biệt, ở những vùng núi Tây Bắc, Tây Nam Bộ, đồng bào dân tộc thiểu số.

Ví dụ: Tại bản án phúc thẩm có số hiệu: 1309/2014/DSPT thì tòa án đã bác yêu cầu của nguyên đơn, kiện nguyên đơn vay số tiền 16.730.000.000 đồng. Tòa án lập luận rằng

“Việc bà NĐ_Linh khai bà BĐ_Hoa vay tiền để kinh doanh là không phù hợp, vì tại thời điểm chuyển tiền, bà BĐ_Hoa có khoản tiền lớn hơn khoản tiền bà NĐ_Linh chuyển; số tiền bà ND_Linh chuyển có số lẻ, nên không phù hợp với thực tế tập quán vay mượn tiền thông thường với giá trị lớn”

Đây được xem là một tập quán pháp trong giao kết hợp đồng.

2.4. Áp dụng tương tự pháp luật

Trong việc áp dụng các điều khoản để giao kết hợp đồng thì không phải lúc nào các quy định pháp luật có thể bắt kịp được các tình huống xảy ra trong đời sống xã hội.

Vì thế, đôi khi các bên được phép linh hoạt trong việc áp dụng tương tự pháp luật

Theo quy định tại điều 6 của BLDS

Điều 6. Áp dụng tương tự pháp luật

  1. Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự.
  2. Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều này thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này, án lệ, lẽ công bằng.

Tóm lại, ngoài việc các bên được tự do thể hiện ý chí của mình khi tham gia giao kết hợp đồng thì các bên không được thỏa thuận những điều khoản cấm theo luật định, không được trái với những quy định của pháp luật. Các bên cần lưu ý những vấn đề này để thỏa thuận trong hợp đồng sẽ không bị tuyên vô hiệu khi xảy ra tranh chấp.

 

 

 

 

 

THỜI HẠN THỰC HIỆN HỢP ĐỒNG

 

Trong khi ký kết hợp đồng, thời hạn cũng là yếu tố mà các bên rất quan tâm trong việc giao kết hợp đồng.Bài viết này sẽ tập trung vào việc phân tích những quy định của pháp luật liên quan đến thời hạn để thực hiện hợp đồng.

1. Cơ sở pháp lý

– Bộ luật dân sự 2015

– Luật thương mại 2005

2. Nội dung

2.1. Thơi hạn trong giao kết hợp đồng

Tại điều 144 trong bộ luật dân sự có quy định về thời hạn như sau:

Điều 144. Thời hạn

  1. Thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác.
  2. Thời hạn có thể được xác định bằng phút, giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể sẽ xảy ra.

Để hiểu rõ hơn về thời hạn ta sẽ tham khảo 2 điều luật sau

Điều 147. Thời điểm bắt đầu thời hạn

  1. Khi thời hạn được xác định bằng phút, giờ thì thời hạn được bắt đầu từ thời điểm đã xác định.
  2. Khi thời hạn được xác định bằng ngày, tuần, tháng, năm thì ngày đầu tiên của thời hạn không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề ngày được xác định.
  3. Khi thời hạn bắt đầu bằng một sự kiện thì ngày xảy ra sự kiện không được tính mà tính từ ngày tiếp theo liền kề của ngày xảy ra sự kiện đó.

Điều 148. Kết thúc thời hạn

  1. Khi thời hạn tính bằng ngày thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn.
  2. Khi thời hạn tính bằng tuần thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tuần cuối cùng của thời hạn.
  3. Khi thời hạn tính bằng tháng thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày tương ứng của tháng cuối cùng của thời hạn; nếu tháng kết thúc thời hạn không có ngày tương ứng thì thời hạn kết thúc vào ngày cuối cùng của tháng đó.
  4. Khi thời hạn tính bằng năm thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày, tháng tương ứng của năm cuối cùng của thời hạn.
  5. Khi ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.
  6. Thời điểm kết thúc ngày cuối cùng của thời hạn vào lúc hai mươi tư giờ của ngày đó.

Từ 3 điều luật trên có thể thấy thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Là căn cứ để phát sinh và chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên.

Ví dụ: Cty A có ký kết Hợp dịch vụ thuê xe của công ty B. Hai bên cùng thỏa thuận ngày Ký kết là ngày có hiệu lực của Hợp đồng ngày 15/4/2018. Thời hạn của Hợp đồng thỏa thuận từ ngày 16/4/2018 đến 16/4/2019, thanh toán tiền thuê 2 triệu đồng vào ngày 16 của mỗi tháng. Thì thời hạn để hợp đồng có hiệu lực là 1 năm.  Thời hạn đê thực hiện nghĩa vụ thanh toán của A là 1 tháng.

Trong một số luật chuyên ngành cũng quy định về thời hạn. Như tại điều 37 Luật thương mại 2005 quy định về thời hạn giao hàng như sau:

Điều 37. Thời hạn giao hàng

  1. Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng.
  2. Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua.
  3. Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng.

Như vậy, các bên được tự do thỏa thuận ý chí về việc chọn thời hạn để giao hàng và thanh toán

2.2. Thời hạn thanh toán nếu không có thỏa thuận trong hợp đồng

Lĩnh vực thương mại có rất nhiều những loại hợp đồng liên quan như: hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ. Có một số trường hợp, do bất cẩn mà các bên không thỏa thuận trong hợp đồng về thời hạn thanh toán. Tuy nhiên, nhà làm luật cũng đã dự trù về trường hợp này nên tại điều 55 của luật thương mại 2005 quy định như sau:

Điều 55. Thời hạn thanh toán

Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn thanh toán được quy định như sau:

  1. Bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan đến hàng hoá;
  2. Bên mua không có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi có thể kiểm tra xong hàng hoá trong trường hợp có thỏa thuận theo quy định tại Điều 44 của Luật này.

Như vậy, các bên không được phép nói là do trong hợp đồng không có điều khoản quy định về thời gian thanh toán mà không thanh toán cho bên còn lại.

Tóm lại, thời hạn là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác. Các bên có quyền tự do thỏa thuận về thời hạn thanh toán. Trong một loại hợp đồng có thể quy định nhiều điều khoản về thời hạn khác nhau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CƠ CHẾ BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG

Trong giao lưu dân sự, sẽ có trường hợp một bên hoặc các bên có sự vi phạm. Từ đó, phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng. Bài viết này sẽ tập trung vào việc, những hậu quả sẽ xảy ra và mức bồi thường thiệt hại khi có bên bị vi phạm hợp đồng.

1. Cơ sở pháp lý

– Bộ luật dân sự 2015

– Luật thương mại 2005

2. Nội dung

2.1. Khái niệm về bồi thường thiệt hại

Tại điều 13 của BLDS có quy định về khái niệm bồi thường thiệt hại

Điều 13. Bồi thường thiệt hại

Cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

Dĩ nhiên, đây là khái niêm chung cho tất cả các đối tượng điều chỉnh của BLDS nhưng nó cho ta một cái nhìn khái quát nhất của tất cả các trường hợp bồi thường đó là bù đắp những thiệt hại xảy ra và thể hiện ý chí rằng, thiệt hại đến đâu thì bồi thường đến đó.

Trong mối quan hệ hợp đồng thì các loại hợp đồng đều có quy định về việc bồi thường thiệt hại.

Ví dụ: tại Điều 516. Quyền của bên sử dụng dịch vụ như sau:

Điều 516. Quyền của bên sử dụng dịch vụ

 

  1. Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc theo đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và thỏa thuận khác.

 

  1. Trường hợp bên cung ứng dịch vụ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại.

 

2.2. Bồi thường thiệt hại hợp đồng trong luật thương mại

Trong các loại hợp đồng thì hợp đồng thương mại với sự điều chỉnh của luật thương mại quy định cụ thể nhất về bồi thường thiệt hại

Điều 302. Bồi thường thiệt hại

  1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổn thất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.
  2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm

Từ khái niệm trên cho thấy, khi một bên vi phạm thì giá trị bồi thường thiệt hại dành cho bên bị thiệt hại  được chia làm hai phần: Thiệt hại thực tế xảy ra và khoản lợi trực tiếp mà bên vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm

Thực tế, rất khó để chứng minh khoản lợi trực tiếp mà bên vi phạm đáng lẽ được hưởng. Bởi lẽ nó đôi khi mang tính chất phỏng đoán. Ví dụ: A mua 100 con gà của B nhưng bị bệnh và chết chỉ sau 1 ngày. Lúc này thiệt hại lẽ ra được hưởng rất khó xác định. Vì A mua là để phục vụ cho đám giỗ của gia đình.

2.3. Nghĩa vụ chứng minh thiệt hại xảy ra

Đối với phần thiệt hại thực tế xảy ra thì căn cứ dựa vào điều 303.

Điều 303 quy định cụ thể như sau:

Điều 303. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại

Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:

  1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;
  2. Có thiệt hại thực tế;
  3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.

Như vậy, căn cứ để phát sinh trách nhiệm bồi thường không xét yếu tố lỗi bởi cho dù là lỗi cố ý hay vô ý thì cũng đã sự thiệt hại xảy ra. Chỉ cần thỏa 3 yếu tố trên thì bên bị thiệt hại có thể yêu cầu bồi thường

Ví dụ: A ký hợp đồng mua 90 chiếc xe ô tô cho B, mỗi chiếc 400 triệu đồng và hai bên đã thỏa thuận là sẽ  giao hàng vào sáng ngày 11/04. A có ký thêm một hợp đồng trước đó với C, D, E để giao xuống mỗi bên 30 chiếc xe, mỗi chiếc trị giá 500 triệu đồng và A sẽ giao cùng ngày 12/04. Tuy nhiên, do kiếm được một bên trả giá xe là 500 triệu một chiếc nên tới ngày giao, bên B đã không giao xe như đúng thời hạn.

Trong tình huống trên, thiệt hại mà B gây ra cho A là 90×100=9 tỷ đồng.

+ Trường hợp 1: nếu như C,D,E cũng có một hợp đồng với các bên khác thì 3 chủ thể này sẽ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, như thế, A sẽ không thể nhận được đầy đủ tiền bồi thường thiệt hại như ở trên. Thêm vào đó, nếu như tổng số tiền thiệt hại mà C,D,E liệt kê là 9 tỷ thì A cuối cùng chẳng nhận được bất kỳ một số tiền bồi thường nào.

+  Trường hợp 2: Còn nếu như cũng ở tình huống trên mà A chỉ đem về và bán lẻ tại cửa hàng thì việc chứng minh thiệt hại là vô cùng khó khăn

Thêm nữa, tại điều 304 của luật thương mại quy định

Điều 304. Nghĩa vụ chứng minh tổn thất

Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độ tổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Vì thế, các bên phải cẩn thận, không trông chờ vào việc được bồi thường đầy đủ trước khi ký kết hợp đồng. Việc nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên bị vi phạm cũng có lý do của nhà làm luật nhưng họ bị thiệt hại mà còn phải đi chứng mình thì theo chúng tôi điều này không thỏa đáng. Dĩ nhiên, họ sẽ phải nêu lên ý kiến, liệt kê những khoản thiệt hại thực tế nhưng bên gây ra thiệt hại phải chứng minh là mình không có lỗi thì sẽ thỏa đáng hơn.

Ở trường hợp 2 thật khó để chứng minh thiệt hại mà B đã gây ra cho A. Cho nên, việc bồi thường thiệt hại thường không được chấp nhận khi các bên kiện ra tòa. Một lời khuyên cho các bên đó là nên bổ sung thêm điều khoản về mức phạt vi phạm hợp đồng là 8% vì tại điều 307 của luật thương mại có quy định:

Điều 307. Quan hệ giữa chế tài phạt vi phạm và chế tài bồi thường thiệt hại

  1. Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.
  2. Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này có quy định khác.

Như thế, nếu có ghi nhận về điều khoản phạt 8% phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm thì bên A có thể được bù đắp 8% của 9 tỷ đồng trên. Ngoài ra, dù được nhận phần phạt vi phạm thì A vẫn có thể được nhận tiếp phần được bồi thường thiệt hại.

Tóm lại, nguyên tắc về bồi thường thiệt hại đó là thiệt hại đến đâu, bồi thường đến đó, kể cả phần lợi tức phát sinh lẽ ra nhận được. Tuy nhiên, nghĩa vụ chứng minh thiệt hại thuộc về bên bị vi phạm. Cho nên, các bên nên ghi nhận thêm mức phạt vi phạm hợp đồng là 8% khi giao kết hợp đồng để đảm bảo lợi ích của mình.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Quy định về phạt vi phạm hợp đồng

Thông thường, khi soạn thảo hợp đồng chúng ta không thể bỏ sót điều khoản quy định về phạt vi phạm hợp đồng. Đây là điều khoản quan trọng để đảm bảo nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của các bên.

Căn cứ pháp lý:

  • Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Luật Thương mại năm 2005;
  • Luật Xây dựng năm 2014;
  • Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010.
Quy định về phạt vi phạm hợp đồng
Quy định về phạt vi phạm hợp đồng

Phạt vi phạm là gì?

  • Khái niệm

Căn cứ Khoản 1 Điều 418 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm”.

Theo Điều 300 Luật Thương mại 2005: “Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả một khoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này”.

Như vậy, phạt vi phạm không phải là điều khoản đương nhiên được công nhận trừ khi được hai bên thỏa thuận. Nếu không được thỏa thuận rõ ràng về việc phạt vi phạm thì khi một bên vi phạm hợp đồng, bên bị vi phạm sẽ không được nhận số tiền bị vi phạm. Phạt vi phạm là biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng, biện pháp ngăn ngừa hành vi vi phạm và một phần nào đó là biện pháp khắc phục hậu quả, bù đắp thiệt hại

  • Phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại

Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm.

Khi nào bị phạt do vi phạm

Điều kiện phạt vi phạm

Khi có thỏa thuận phạt vi phạm và có hành vi vi phạm hợp đồng thì bên vi phạm phải chịu phạt vi phạm. Thông thường, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng xảy ra khi:

  • Hợp đồng bị hủy bỏ.
  • Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng.
  • Hợp đồng vô hiệu.

Miễn trách nhiệm đối với phạt vi phạm

Căn cứ Luật Thương mại năm 2005 thì bên vi phạm không phải chịu phạt vi phạm khi thuộc một trong các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm được quy định như sau:

2.1. Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận:

Dựa trên nguyên tắc tự nguyện, tự do thỏa thuận không trái pháp luật, các bên có thể đưa ra điều khoản miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng. Điều khoản miễn trừ trách nhiệm trong hợp đồng trong những trường hợp cụ thể do các bên dự liệu khi giao kết hợp đồng. 

Khi xảy ra trường hợp miễn trừ trách nhiệm mà các bên đã thỏa thuận thì bên vi phạm sẽ không phải chịu phạt vi phạm. Hay nói một cách khác, bên bị vi phạm được giải thoát khỏi trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng vì đưa ra được những cơ sở, căn cứ miễn trừ trách nhiệm chính là điều khoản miễn trừ trách nhiệm đã thỏa thuận.Tuy nhiên, vẫn có trường hợp ngoại lệ, mặc dù các bên có thỏa thuận các trường hợp miễn trách nhiệm nhưng khi có hành vi vi phạm xảy ra thì không được miễn.  Ví dụ tại Khoản 3 Điều 405 DS 2015, trong trường hợp hợp đồng mẫu có các điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng mẫu thì điều khoản đó bị vô hiệu trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Hoặc tại Điểm a Khoản 1 Điều 16 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, điều khoản loại trừ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đối với người tiêu dùng sẽ bị xem là không có hiệu lực. 

2.2. Xảy ra sự kiện bất khả kháng:

Khoản 1 Điều 156 BLDS 2015 quy định sự kiện bất khả kháng: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”.

Để được xem là bất khả kháng thì một sự kiện phải thỏa mãn ba điều kiện sau:

  • Thứ nhất, sự kiện bất khả kháng phải là sự kiện xảy ra một cách khách quan;
  • Thứ hai, sự kiện bất khả kháng phải là sự kiện không thể lường trước được;
  • Thứ ba, sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra mà hậu quả để lại hông thể khắc phục được dù đã áp dụng mọi iện pháp cần thiết và hả năng cho phép;

Khi một sự kiện đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên thì nó sẽ được xem là sự kiện bất khả kháng mà các bên có thể dẫn chứng làm cơ sở cho việc miễn trừ trách nhiệm khi có hành vi vi phạm

2.3. Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia

Việc không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc không đúng theo thỏa thuận của hợp đồng là do hành vi sơ suất của bên có quyền thì bên có nghĩa vụ sẽ được miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm. Khi một thương nhân làm cho bên kia không thể thực hiện được hợp đồng thì họ không có quyền viện dẫn vi phạm này để làm cơ sở yêu cầu phạt vi phạm. Và Luật Thương mại 2005 cũng đã ghi nhận điều này: “Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia” là một trong các trường hợp miễn trách nhiệm được đưa ra ở Điểm c Khoản 1 Điều 294. Cần nói thêm, “lỗi” ở đây không chỉ là buộc bên vi phạm phải chứng minh lỗi của bên bị vi phạm mà còn là chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa nguyên nhân của hành vi vi phạm và hệ quả của nó.

2.4. Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Như vậy, nếu như các bên đã biết về việc thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền có thể dẫn đến vi phạm hợp đồng mà vẫn đồng ý giao kết hợp đồng thì không được áp dụng miễn trách nhiệm. Hơn nữa, quyết định của cơ quan nhà nước phải làm phát sinh nghĩa vụ của bên vi phạm, tức là phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định nào đó dẫn tới hành vi vi phạm hợp đồng.

Điều kiện để bên vi phạm được miễn trách nhiệm là phải chứng minh thuộc các trường hợp được miễn trách nhiệm nêu trên.

Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bên kia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra.

Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặc thông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.

III. Căn cứ phạt vi phạm

Khi có hành vi vi phạm xảy ra, bên bị vi phạm không nhận được những gì đáng lẽ phải nhận được theo thỏa thuận trong hợp đồng. Từ đó, họ đưa ra các yêu cầu buộc bên vi phạm chịu phạt vi phạm.

Bên bị vi phạm muốn áp dụng chế tài phạt vi phạm phải chứng minh có đủ căn cứ để phạt vi phạm, bao gồm: Có thỏa thuận phạt vi phạm và có hành vi vi phạm hợp đồng.

Thỏa thuận phạt vi phạm có thể được chứng minh bằng cách dẫn chứng Hợp đồng, Phụ lục hợp đồng hoặc các chứng cứ khác ghi nhận sự thỏa thuận của các bên.

Về hành vi vi phạm, bên bị vi phạm cần chứng minh được mình đã không nhận được hoặc không nhận đủ, nhận đúng những gì đã thỏa thuận.

Tuy nhiên, vẫn có những trường hợp ngoại lệ mà bên yêu cầu không cần phải chứng minh. Chẳng hạn như trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh yếu tố lỗi mà thương nhân (tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ) phải chứng minh mình không có lỗi gây thiệt hại (Điều 42 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và Điểm a Khoản 1 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015).

Mức phạt

Căn cứ Điều 301 Luật Thương mại 2005 quy định mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.

Trừ trường hợp sau đây:

Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng. Mức phạt do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định.

Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi cố ý của mình thì phải bồi thường thiệt hại phát sinh cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định.

Tuy nhiên, đối với Luật Xây dựng 2014, mức phạt hợp đồng được quy định tại Khoản 1, Điều 146, đối với công trình xây dựng sử dụng vốn Nhà nước thì mức phạt hợp đồng không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm, các trường hợp còn lại do các bên thỏa thuận, pháp luật không giới hạn mức phạt tối đa. Do đó, trong trường hợp hợp đồng xây dựng có thỏa thuận mức phạt tối đa 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm thì Luật Xây dựng được áp dụng.

Tiền lãi do chậm thanh toán

Phần lớn các loại hợp đồng nói chung và hợp đồng thương mại nói riêng đều có nội dung về nghĩa vụ thanh toán một khoản tiền.

Tại Điều 357 và Điều 468 của BLDS 2015 quy định về trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo đó mức lãi suất sẽ do hai bên thỏa thuận nhưng không quá 20%/năm của khoản tiền chậm trả (trừ trường hợp có quy định khác), nếu hai bên không có thỏa thuận thì mức lãi suất bằng một nửa so với lãi suất trần nếu hai bên thỏa thuận được, tức là 10%/năm của khoản tiền chậm trả.

Tại Điều 306 Luật Thương mại 2005 cũng có quy định về vấn đề này: “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Từ những quy định trên, chúng ta nhận thấy rằng tiền lãi chậm thanh toán mang bản chất của chế tài phạt vi phạm nhưng không có thoả thuận vẫn có thể áp dụng được.

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, quan hệ hợp đồng này càng diễn ra phức tạp. Điều này cũng có nghĩa các vi phạm hợp đồng ngày càng phổ biến. Từ đó, việc quy định chi tiết các biện pháp áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng là thực sự cần thiết. Tuy mục đích của hợp đồng là nhằm thỏa mãn các lợi ích mà các bên mong muốn khi giao kết nhưng vì nhiều lý do mà các lợi ích này không đạt được, một trong những lý do đó là do có hành vi cố ý vi phạm hợp đồng nhằm mưu lợi và xâm hại lợi ích của nhau. Vậy nên, chế tài phạt vi phạm vừa là chế tài nhằm khắc phục thiệt hại của bên bị vi phạm vừa là chế tài nhằm hạn chế sự vi phạm của mỗi chủ thể trong hoạt động kinh doanh thương mại.

Lê Hiền

QUY ĐỊNH VỀ ĐẶT CỌC KHI GIAO KẾT HỢP ĐỒNG

Khi tham gia giao kết hợp đồng thì các bên ban đầu đều mong muốn hướng đến những lợi ích cuối cùng cho cả hai bên. Tuy nhiên, các bên cũng cần phải có sự thỏa thuận về phương án để đảm bảo giao kết được thành công. Đặc biệt là những giao dịch có số lượng lớn và cần chia thành nhiều đợt để thanh toán. Vì thế, bài viết này sẽ tập trung vào việc pháp luật quy định như thế nào về việc đặt cọc.

1. Cơ sở pháp lý

– Bộ Luật Dân sự 2015

– Pháp lệnh ngoại hối 2005 được sửa đổi bổ sung năm 2013

2. Nội dung

2.1. Bản chất của đặt cọc

Điều 292 của BLDS quy định cụ thể như sau:

Điều 292. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm:

  1. Cầm cố tài sản.
  2. Thế chấp tài sản.
  3. Đặt cọc.
  4. Ký cược.
  5. Ký quỹ.
  6. Bảo lưu quyền sở hữu.
  7. Bảo lãnh.
  8. Tín chấp.
  9. Cầm giữ tài sản.

Từ quy định đó, có thể thấy bản chất của đặt cọc là để đảm bảo các bên tham gia ký kết hợp đồng sẽ thực hiện nghĩa vụ hợp đồng với nhau.

Ví dụ: A làm văn bản đặt cọc 100 triệu đồng để mua mảnh đất của B với giá 1 tỷ đồng, dự kiến sẽ tăng giá một thời gian sau. Trường hợp này, văn bản ghi nhận đặt cọc được lập riêng. A ký văn bản đặt cọc để được đặt chỗ cho việc mua mãnh đất của B, để đảm bảo A sẽ không bán cho người khác, B nhận cọc của A để đảm bảo có người đã đặt chỗ để mua mảnh đất đó.

Đặt cọc có thể là một điều khoản trong hợp đồng hoặc được lập thành một văn bản riêng.

 

2.2. Loại tài sản nào được đặt cọc

Tại khoản 1 – Điều 328 của BLDS quy định như sau:

Điều 328. Đặt cọc

  1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

Như vậy tiền, kim cương, đá quý, vàng đều có thể được dùng để đặt cọc nhưng quyền tài sản, bất động sản thì không được phép như trong các biện pháp bảo đảm khác.

Và các tài sản phải thuộc sở hữu của bên đặt cọc hoặc của người khác với điều kiện người đó cho phép sử dụng để đặt cọc. Các tài sản này cũng không bị cấm trong lưu thông hoặc hạn chế lưu thông.

Ngoài ra, các bên không được dùng tiền là ngoại tệ để đặt cọc vì theo quy định tại Điều 22 của pháp lệnh ngoại hối được sửa đổi bổ sung năm 2013

“Điều 22. Quy định hạn chế sử dụng ngoại hối

Trên lãnh thổ Việt Nam, mọi giao dịch, thanh toán, niêm yết, quảng cáo, báo giá, định giá, ghi giá trong hợp đồng, thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú, người không cư trú không được thực hiện bằng ngoại hối, trừ các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.”

2.3. Hậu quả pháp lý của việc không thực hiện tiếp hợp đồng sau khi đã đặt cọc

Tại khoản 2 – điều 328 BLDS quy định:

Điều 328. Đặt cọc

  1. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Ví dụ: A ký hợp đồng mua 10 máy Scan trị giá 1,5 triệu của công ty B để phục vụ cho công việc ở văn phòng mới. Và A đã đặt cọc trước 3 triệu. Do hồ sơ của A thuộc trường hợp không được tiến hành hoạt động ở khu vực thành phố nên A đã chuyển hồ sơ về tỉnh lẻ. Trong trường hợp này A sẽ phải mất toàn bộ tiền cọc nêu trên nếu không thực hiện tiếp hợp đồng.

Mặt khác, về phía trường hợp người nhận đặt cọc không thực hiện tiếp hợp đồng.

Ví dụ: A ký hợp đồng mua đất của B trị giá 1 tỷ đồng với số vàng dùng để đặt cọc là 30 chỉ vàng.

Trường hợp 1: B có thể trả lại cho A 30 chỉ vàng sau khi A thanh toán 1 tỷ đồng. Cũng có thể quy đổi giá trị và khấu trừ vào 1 tỷ đồng đó

Trường hợp 2: Vì B thấy C trả giá cao hơn nên đã thông báo với A là sẽ không bán cho A nữa. Vì thế, B phải đưa thêm 30 chỉ vàng nữa nên tổng giá mà B phải đưa lại cho A là 60 chỉ vàng, B cũng có thể quy đổi thành tiền để trả cho A.

Tóm lại, đặt cọc có thể được xem là một hợp đồng vì là sự thỏa thuận của hai bên, hợp đồng đặt cọc cũng không bắt buộc phải được lập bằng văn bản nhưng để tránh tranh cải các bên cần lập hợp đồng đặt cọc. Nếu bên đưa cọc không thực hiện hợp đồng thì sẽ bị mất cọc, bên nhận cọc không thực hiện hợp đồng thì sẽ phải trả lại bên đưa cọc số tiền đặt cọc, cũng như thêm một số tiền tương đương.

Cảm ơn quý đọc giả đã đón đọc. Công ty Luật Minh Mẫn của chúng tôi hi vọng với những kiến thức này thì sẽ mang lại cho quý đọc giả những lợi ích pháp lý nhất định.

 

 

 

 

 

 

 

NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐƯỢC ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG

Khi thực hiện hợp đồng thì sẽ xuất hiện một số trường hợp, một trong hai bên không muốn tiếp tục duy trì hợp tác với bên còn lại. Trong trường hợp này, bên không muốn duy trì đó sẽ có thể thỏa thuận để chấm dứt. Tuy nhiên, có một số trường hợp vì để giảm thiệt hại ngay tức khắc hoặc khả năng thực hiện nghĩa vụ không còn nữa nên một bên sẽ đơn phương chấm dứt hợp đồng. Bài viết này sẽ tập trung về việc trong trường hợp nào thì các bên có thể chấm dứt hợp đồng mà không trái với quy định của pháp luật.

1. CƠ SỞ PHÁP LÝ

– Bộ Luật Dân Sự 2015

2. NỘI DUNG

Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

  1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
  2. Bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
  3. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận về giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.
  4. Bên bị thiệt hại do hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng của bên kia được bồi thường.
  5. Trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan do không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng.

Quy định này chỉ là quy định chung cho tất cả các loại hợp đồng, mỗi loại hợp đồng sẽ có những trường hợp được đơn phương chấm dứt hợp đồng khác nhau.

Từ quy định trên có thể thấy, nhà làm luật cho phép các bên đơn phương chấm dứt hợp đồng mà không cần phải bồi thường miễn là thỏa mãn các điều kiện ở các khoản ở trên.

Nhưng bên muốn chấm dứt đó phải thông báo cho bên còn lại về sự chấm dứt này. Do nếu như không thông báo, bên đang thực hiện hợp đồng sẽ không biết để tiềm chủ thể thay thế hoặc phương án khắc phục hậu quả

 

Ví dụ: A ký hợp đồng giao 200 kg thịt bò cho doanh nghiệp B với giá 40 triệu đồng mỗi ngày, hợp đồng được ký trong vòng 01 năm. Sau 1 tuần giao hàng, B phát hiện A giao thịt bò giả khi kiểm định lại. Nên B đã đơn phương chấm dứt hợp đồng với A và yêu cầu B phải bồi thường do vi phạm hợp đồng thông qua thông báo chính thức. Dù A đã muốn ngồi lại đàm phán nhưng B vẫn không chấp nhận vì hành vi gian dối của A.

Trong trường hợp này, B đã đơn phương chấm dứt hợp đồng khi áp dụng khoản 1 – Điều 428 ở trên.

Một trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng mà phải bồi thường thiệt hại đó trong Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hai bên thông thường sẽ ký với nhau một hợp đồng đặt cọc trước khi thực hiện phần còn lại của hợp đồng

Tại điều 328 của BLDS quy định

Điều 328. Đặt cọc

  1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
  2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Về số tiền bắt buộc đặt cọc thì do hai bên thỏa thuận, do không có bất kỳ quy định của pháp luật quy định về điều ấy.

Nên trong giao dịch bình thường, có rất nhiều trường hợp người mua đặt cọc 100 triệu đồng (thông thường) cho bên bán, rồi có vấn đề về tài chính nên không mua đất nữa. Dẫn đến, bị mất luôn tiền cọc.

Tóm lại, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng là được pháp luật cho phép chỉ cần tuân thủ những quy định tại Điều 428 của BLDS. Tuy nhiên, về những trường hợp chi tiết hơn của từng loại hợp đồng sẽ có trong những bài viết sau. Công ty Luật Minh Mẫn cảm ơn các quý đọc giả đã đón đọc.