luật sư hợp đồng

CÁC ĐIỀU KHOẢN CƠ BẢN CỦA HỢP ĐỒNG

Ngày nay, các cơ quan công quyền đã cố gắng xây dựng một hệ thống pháp luật về dân sự không có sự can thiệp quá sâu của họ vào các giao dịch dân sự. Vì thế, các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng sẽ cảm thấy thoải mái hơn trong việc tham gia ký kết hợp đồng.

Bài viết này sẽ cung cấp cho các cá nhân, doanh nghiệp tham gia vào ký kết các loại hợp đồng những kiến thức cơ bản về khái niệm, chủ thể, đối tượng và mục đích của hợp đồng.

1. Cơ sở pháp lý

– Bộ Luật Dân Sự 2015

– Luật hôn nhân gia đình 2014

– Luật doanh nghiệp 2014

2. Chủ thể của hợp đồng

2.1. Khái niệm

Về khái niệm hợp đồng, Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

Điều 385. Khái niệm hợp đồng

Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.

Từ khái niệm đó, có thể thấy chủ thể của hợp đồng không nhất định phải là cá nhân mà cũng có thể là tổ chức. Việc tham gia giao kết hợp đồng thì không giới hạn số người tham  gia nhưng tối thiểu phải có 02 người.

Tuy nhiên, nếu là cá nhân thì sẽ có những điều kiện để tham gia vào quá trình đề nghị và giao kết hợp đồng khác với tổ chức. Và bây giờ chúng ta hãy cùng đi vào phân tích những đặc điểm riêng biệt của hai chủ thể

2.2. Cá nhân

Cá nhân thì theo các quy định của BLDS thì được chia theo độ tuổi và khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của cá nhân đó. Cụ thể như sau:

Điều 19. Năng lực hành vi dân sự của cá nhân

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.

Điều 20. Người thành niên

  1. Người thành niên là người từ đủ mười tám tuổi trở lên.
  2. Người thành niên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp quy định tại các điều 22, 23 và 24 của Bộ luật này.

Điều 21. Người chưa thành niên

  1. Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi.
  2. Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện.
  3. Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
  4. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý.

– Cá nhân từ đủ 18 tuổi trở lên có thể tham gia mọi giao dịch dân sự thông qua ý chí của mình. Do lúc này, xét về đặc điểm tâm sinh lý thì họ đã đủ nhận thức để tự quyết định những giao dịch của mình mà không bị sự ảnh hưởng bởi ý chí của người khác hay sự bất ổn về tâm sinh lý của bản thân.

=> Theo điều 20 của BLDS 2015

– Đối với những cá nhân từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì việc tham gia giao kết hợp đồng của họ cũng được pháp luật công nhận. Tuy nhiên, họ phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý trong trường hợp họ tham gia giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật.

Ví dụ như: A 16 tuổi muốn chuyển nhượng mảnh đất của ba cho thì phải được sự đồng ý của cha hoặc mẹ của A bằng văn bản

=> Theo điều 77 của Luật hôn nhân và gia đình 2014 về việc định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên.

Điều 77. Định đoạt tài sản riêng của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự

  1. Trường hợp cha mẹ hoặc người giám hộ quản lý tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì có quyền định đoạt tài sản đó vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 09 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
  2. Con từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có quyền định đoạt tài sản riêng, trừ trường hợp tài sản là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc dùng tài sản để kinh doanh thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.
  3. Trong trường hợp con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự thì việc định đoạt tài sản riêng của con do người giám hộ thực hiện.

Điều 136 của BLDS về đại diện theo pháp luật của cá nhân quy định:

Điều 136. Đại diện theo pháp luật của cá nhân

  1. Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.
  2. Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.
  3. Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.
  4. Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Còn những cá nhân từ đủ 06 tuổi tới chưa đủ 15 tuổi thì phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật trừ những sinh hoạt phục vụ đời sống. Cá nhân chưa đủ 06 tuổi thì do người đại diện theo pháp luật lập.

=> Theo quy định tại điều 21 của BLDS

Điều 125 của BLDS quy định về những chủ thể không thể tham gia ký kết hợp đồng trực tiếp

Điều 125. Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện

  1. Khi giao dịch dân sự do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện thì theo yêu cầu của người đại diện của người đó, Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu nếu theo quy định của pháp luật giao dịch này phải do người đại diện của họ xác lập, thực hiện hoặc đồng ý, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2.3 Tổ chức

Khi nói về tổ chức thì chúng ta chỉ xét đến những tổ chức có thể tham gia vào việc ký kết hợp đồng như: Pháp nhân, doanh nghiệp tư nhân, hộ kinh doanh cá thể cần xác định rõ những tổ chức như thế nào thì được gọi là pháp nhân và năng lực pháp luật của pháp nhân đó là gì.

Điều 74 về pháp nhân của BLDS quy định:

Điều 74. Pháp nhân

  1. Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây:
  2. a) Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan;
  3. b) Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này;
  4. c) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;
  5. d) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.
  6. Mọi cá nhân, pháp nhân đều có quyền thành lập pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.

Điều 86. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân

  1. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân là khả năng của pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ dân sự. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
  2. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm được cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; nếu pháp nhân phải đăng ký hoạt động thì năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phát sinh từ thời điểm ghi vào sổ đăng ký.
  3. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân chấm dứt kể từ thời điểm chấm dứt pháp nhân.

Theo Luật doanh nghiệp 2014, thì các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân bao gồm:

-Công ty TNHH;

– Công ty hợp danh;

– Công ty cổ phần.

Doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp duy nhất không có tư cách pháp nhân.

Phân định ra tư cách pháp nhân như vậy bởi vì đối với pháp nhân thì chỉ chịu trách nhiệm bởi những thiệt hại xảy ra hay thua lỗ bằng chính tài sản của pháp nhân đó mà không phải lấy tài sản của chủ sở hữu ra để xử lý như doanh nghiệp tư nhân hay hộ kinh doanh cá thể.

Tiếp theo, điều mà hầu hết mọi người quan tâm đó là việc xác định xem ai sẽ là người thay mặt pháp nhân đó tham gia ký kết hợp đồng.

Tại Điều 87 của BLDS quy định:

Điều 87. Trách nhiệm dân sự của pháp nhân

  1. Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự do người đại diện xác lập, thực hiện nhân danh pháp nhân.

Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự về nghĩa vụ do sáng lập viên hoặc đại diện của sáng lập viên xác lập, thực hiện để thành lập, đăng ký pháp nhân, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

  1. Pháp nhân chịu trách nhiệm dân sự bằng tài sản của mình; không chịu trách nhiệm thay cho người của pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do người của pháp nhân xác lập, thực hiện không nhân danh pháp nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.
  2. Người của pháp nhân không chịu trách nhiệm dân sự thay cho pháp nhân đối với nghĩa vụ dân sự do pháp nhân xác lập, thực hiện, trừ trường hợp luật có quy định khác

Từ đó, xác định được việc tham gia ký kết hợp đồng giữa các pháp nhân sẽ thông qua người đại diện theo pháp luật của nó.

Khi thành lập doanh nghiệp thì bản thân doanh nghiệp sẽ có điều lệ quy định về việc ai sẽ là người đại diện theo pháp luật của công ty, nhiệm vụ và quyền hạn của người đó ứng với vai trò đại diện. Vậy nên, họ không thể tham gia ký kết vượt quá thẩm quyền của mình

Ví dụ: A là Giám đốc và B là chủ tịch hội đồng thành viên của công ty TNHH 2 TV.  Đều là người đại diện theo pháp luật của công ty. B phát hiện A đã nhân danh công ty ký hợp đồng vay 1 tỷ đồng với công ty C mà không nằm trong kế hoạch của công ty mình nên đã đưa chứng cứ ra hội đồng. Vậy, áp dụng khoản 3 điều 87 thì A phải chịu trả số tiền 1 tỷ đồng đó.

3. Đối tượng của hợp đồng

Đối tượng của hợp đồng rất đa dạng và phong phú. Nó sẽ dựa vào từng loại hợp đồng mà hai bên thỏa thuận để ký kết. Nhìn tổng quan, có thể kể đến các đối tượng như: tiền, giấy tờ có giá, đất thổ cư, xe ô tô, …

Dưới đây là một số tài sản của một số loại hợp đồng theo quy định của BLDS

Điều 105. Tài sản

  1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
  2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

Điều 107. Bất động sản và động sản

  1. Bất động sản bao gồm:
  2. a) Đất đai;
  3. b) Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai;
  4. c) Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
  5. d) Tài sản khác theo quy định của pháp luật.
  6. Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.

Tuy nhiên, có một số là đối tượng của hợp đồng không phải là tài sản như: quyền của một cá nhân trong hợp đồng ủy quyền, nhãn hiệu của  một sản phẩm như trong hợp đồng chuyển nhượng nhãn hiệu. Tóm lại, chúng ta có thể thấy đối tượng của hợp đồng rất đa dạng, tùy vào lĩnh vực giao kết mà đối tượng sẽ khác nhau.

4. Mục đích hợp đồng

Khi xác lập một giao dịch dân sự thì các bên luôn bày tỏ ý chí và mong muốn của mình vào việc hợp đồng sẽ mang lại một lợi ích gì đó cho họ. Và mục đích của hợp đồng là vô cùng quan trọng.

Tại Điều 118 BLDS quy định về mục đích của giao dịch dân sự như sau:

Điều 118. Mục đích của giao dịch dân sự

Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích mà chủ thể mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó.

Mục đích của một số các bên tham gia ký kết cũng tùy thuộc vào loại hợp đồng và đối tượng của nó. Ví dụ: bên mua hợp đồng xe ô tô thì mục đích là để sở hữu chiếc xe ô tô, bên chuyển nhượng vốn của hợp đồng chuyển nhượng vốn thì mục đích là chuyển nhượng phần vốn góp trước cho của mình cho bên mua, …

Từ đó, nhìn rộng ra có thể thấy mục đích của việc giao kết hợp đồng là vô cùng quan trọng. Ví dụ: A  và B ký với nhau hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trong đó A là người mua đất, B có mảnh đất trị giá theo hai bên thỏa thuận là 1 tỷ đồng thì ta xác định mục đích cơ bản và thể hiện trên hợp đồng như:

Mục đích giao kết của A là sở hữu mảnh đất mà B đang đứng tên, còn B thì mục đích là nhận được khoản tiền có trị giá 1 tỷ đồng.

Nếu như không có những mục đích đó thì hợp đồng đã không được xác lập giữa các bên. Ngoài ra, nếu mục đích ban đầu không đạt được thì hai bên sẽ xảy ra tranh chấp. Như trong trường hợp đồng trên, nếu như trong quá trình thanh toán mà A đã thanh toán 2 lần và 500 triệu đã được trả nhưng bất ngờ nhà gặp biến cố, A không còn đủ tiền để thanh toán số tiền còn lại thì nếu không có hiểu biết về pháp luật, hai bên rất dễ xảy ra tranh chấp về lợi ích mà hai bên đã hướng đến ban đầu. Trong  trường hợp đó, giải quyết ra sao thì Luật Minh Mẫn sẽ có một bài viết tiếp theo để nói về chủ đề đó.

Tóm lại, mục đích của việc giao kết hợp đồng là lợi ích mà hai bên mong muốn có được sau khi hợp đồng được ký kết và có hiệu lực.

 

 

Dịch vụ giải quyết tranh chấp hợp đồng

Sau khi hợp đồng được ký kết, các bên cam kết tuân thủ các thoả thuận được nêu trong hợp đồng. Tuy nhiên, việc tranh chấp hợp đồng là điều khó tránh khỏi khi một bên trong hợp đồng vi phạm nghĩa vụ không thực hiện đúng hợp đồng như đã giao kết.

Nguyên nhân chủ quan dẫn đến tranh chấp hợp đồng:

+ Doanh nghiệp còn kém hiểu biết pháp luật điều chỉnh quan hệ hợp đồng;

+ Doanh nghiệp không chú trọng vấn đề pháp lý của hợp đồng mà chỉ quan tâm đến vấn đề lợi nhuận đạt được từ hợp đồng;

+ Doanh nghiệp thường không có hợp đồng mẫu, không soạn thảo và xem xét hợp đồng kỹ càng trước khi ký kết;

+ Không tìm hiểu kỹ đối tác, tư cách chủ thể của người ký kết hợp đồng dẫn đến khi tranh chấp hợp đồng không thể khởi kiện được;

+ Nhiều doanh nghiệp đạo đức kinh doanh còn yếu, chỉ quan tâm lợi nhuận mà bất chấp cả việc vi phạm và phá vỡ các thỏa thuận;

Nguyên nhân khách quan dẫn đến tranh chấp hợp đồng:

+ Các rủi ro khách quan như các sự kiện bất khả kháng dẫn đến vi phạm hợp đồng;

+ Chính sách pháp luật thay đổi liên tục khiến doanh nghiệp không thể cập nhập và áp dụng pháp luật đúng;

+ Khung pháp lý điều chỉnh quan hệ hợp đồng còn thiếu minh bạch, chồng chéo dẫn đến không biết áp dụng hoặc áp dụng sai…

Các tranh chấp hợp đồng liên quan đến những vấn đề sau đây:

+ Bên có nghĩa vụ thực hiện việc giao hàng không đúng chất lượng, số lượng;

+ Bên cung cấp dịch vụ không thực hiện đúng như cam kết;

+ Bên có nghĩa vụ thanh toán không thực hiện đủ, kịp thời nghĩa vụ thanh toán;

+ Một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn;

+ Một bên vi phạm hợp đồng có khả năng bị phạt vi phạm;

+ Một bên yêu cầu bồi thường thiệt hại;

+ Một bên yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu;

+ Một bên muốn huỷ hợp đồng;

+ Các trường hợp tranh chấp khác;

Các phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng

Khi xẩy ra tranh chấp hợp đồng, nhiều người nghĩ ngay tới kiện tụng tại tòa, nhưng đó không phải là phương thức duy nhất. Vậy thì ta nên cần biết những phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng trước khi quyết định lựa chọn một phương thức phù hợp nhất.

Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua thương lượng: Hai bên trong hợp đồng tự đàm phán để đưa ra phương án xử lý tranh chấp mà không cần đến sự trợ giúp của bên thứ ba. Phương thức giải quyết tranh chấp này giúp các bên tiết kiệm thời gian, chi phí nhưng trong nhiều trường hợp không hiệu quả vì  phụ thuộc vào thiện chí của các bên trong hợp đồng.

Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua hòa giải: Có thêm sự tham gia của bên thứ ba. Hòa giải viên với vai trò trung gian sẽ giúp các bên đưa ra cách giải quyết mâu thuẫn, quyết định cuối cùng vẫn phụ thuộc vào hai bên tranh chấp. Cũng giống như thương lượng, phương thức hòa giải chỉ phát huy tác dụng khi các bên có thiện chí.

Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua trọng tài: Các bên đưa mâu thuẫn, bất đồng nhờ bên thứ ba là các trọng tài viên hoặc các trung tâm trọng tài giải quyết. Phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài chỉ được áp dụng khi hai bên tranh chấp có thỏa thuận trọng tài. Trọng tài có nhiều ưu điểm nổi trội như thời gian giải quyết nhanh, các trọng tài viên thường có chuyên môn cao, đảm bảo bí mật, tính chung thẩm… Tuy nhiên, chi phí để giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thường khá cao, hiệu lực phán quyết của trọng tài thường không cao bằng tòa án.

Giải quyết tranh chấp hợp đồng thông qua tòa án: Tòa án là cơ quan nhân danh quyền lực Nhà nước. Khi có tranh chấp, một bên có quyền khởi kiện bên kia ra tòa án có thẩm quyền.  Đây là phương thức giải quyết tranh chấp thường được các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng. Ưu điểm của Tòa Án là chi phí thấp hơn trọng tài, hiệu lực phán quyết cao…nhưng thủ tục rườm rà, tốn nhiều thời gian…

Luật Sư Hợp Đồng tập hợp nhiều chuyên gia giàu kinh nghiệm trong giải quyế tranh chấp sẽ giúp mang lại lợi ích cao nhất cho doanh nghiệp và các bên tham gia hợp đồng.

Mọi yêu cầu tư vấn quý vị vui lòng liên hệ thông tin bên dưới với ban thư ký của chúng tôi.

Dịch vụ đàm phán hợp đồng

Đàm phán hợp đồng là thực hiện một hoặc nhiều cuộc đối thoại, thương lượng giữa các bên có quan hệ đối tác với nhau có lợi ích đối kháng với nhau nhằm mục đích tiến đến một thoả thuận chung đáp ứng yêu cầu của các bên tham gia đàm phán. Đàm phán hợp đồng là tập hợp các hoạt động nhằm dung hòa lợi ích để đạt được một thỏa thuận mà các bên có thể chấp nhận được.

Đối với các quan hệ hợp đồng phức tạp, có giá trị quý vị nên yêu cầu các chuyên gia pháp lý về hợp đồng hỗ trợ trong quá trình đàm phán hợp đồng để đạt được lợi ích cao nhất, phòng tránh các rủi ro pháp lý tiềm ẩn trong tương lai. Quý vị cần có chuyên gia hỗ trợ tham gia đàm phán trong các trường hợp sau:

– Khi có nhiều vấn đề pháp lý liên quan mà doanh nghiệp không nắm rõ;

– Khi doanh nghiệp cần chuyên gia đưa ra ý kiến khách quan về một vấn đề để thuyết phục đối tác;

– Khi doanh nghiệp cần đảm bảo các quyền lợi pháp lý của mình trong quá trình thực hiện hợp đồng;

– Khi doanh nghiệp muốn quyền lợi của doanh nghiệp vẫn đảm bảo tốt nhất nếu đưa tranh chấp ra trọng tài hay tòa án.

Nguyên tắc áp dụng trong đàm phán hợp đồng là nguyên tắc tự do thỏa thuận trong Bộ luật Dân sự. Sự tự do thỏa thuận trong đàm phán là nguyên tắc chủ đạo nhưng phải dựa trên cơ sở phù hợp với sự điều chỉnh của các quy định pháp luật.

Phương thức đàm phán được thực hiện qua những đề nghị mời đàm phán. Việc gửi lời mời và việc chấp nhận lời mời đàm phán là bước khởi đầu của tiến trình đàm phán của các bên. Lời mời đàm phán chỉ là khởi đầu của một phía muốn giao dịch, nên chưa là một đề nghị giao kết hợp đồng.

Suốt quá trình đàm phán, kể cả đến thời điểm kết thúc giai đoạn đàm phán, các bên vẫn có quyền thay đổi nội dung đàm phán lại hoặc đàm phán bổ sung trước khi ký kết hợp đồng

Đàm phán là giai đoạn hết sức quan trọng quyết định sự thành bại cho việc đi đến ký kết hợp đồng và đạt được các điều khoản có lợi. Để một cuộc đàm phán thành công, có nhiều yếu tố ảnh hưởng như mục đích, nội dung, bối cảnh, năng lực đàm phán…

Trong đó, đáng kể phải nói đến tầm quan trọng số một của năng lực những người tham gia đàm phán. Ngoài việc phải có kỹ năng đàm phán, kiến thức chuyên sâu, người tham gia đàm phán phải hiểu biết và có kiến thức pháp luật cần thiết để loại trừ thấp nhất rủi ro pháp lý có thể xảy ra, bảo vệ tốt nhất quyền lợi của mà mình bảo vệ.

Các chuyên gia tham gia đàm phán với hai giai đoạn như sau:

Giai đoạn 1: Đánh giá yêu cầu của khách hàng liên quan đến đàm phán hợp đồng. Tại giai đoạn này, các chuyên gia xác định:

+ Yêu cầu cụ thể của khách hàng;

+ Mục đích mà khách hàng đòi hỏi, mong muốn đạt được;

+ Vị trí khách hàng so với đối tác trong quan hệ đàm phán;

+ Điểm mạnh, điểm yếu của chính khách hàng và đối tác;

+ Lợi ích lớn nhất mà khách hàng hướng đến khi giao kết hợp đồng;

+ Đặc điểm đối tác;

+ Quy định pháp luật liên quan đến nội dung hợp đồng;

Giai đoạn 2: Đàm phán

Tại giai đoạn này, các chuyên gia cần:

+ Xác định chủng loại hợp đồng đàm phán và ký kết;

+ Tìm hiểu cụ thể tình hình phía đối tác của khách hàng;

+ Xác định nguồn luật điều chỉnh quan hệ của loại hợp đồng cần đàm phán, ký kết;

+ Lên phương án, kế hoạch, tiến trình đàm phán;

+ Tiến hành đàm phán sơ bộ, ban đầu với đối tác của khách hàng;

+ Chuẩn bị dự thảo hợp đồng để chủ động đi vào đàm phán chính thức;

+ Cùng với khách hàng tham gia đàm phán hợp đồng;

Giai đoạn 3: soạn thảo, tham gia ký kết hợp đồng

+ Lập biên bản ghi nhớ với các điều khoản đã được các bên thông qua.

+ Thông qua dự thảo hợp đồng để đảm bảo sự nhất trí hai bên đối tác và tham mưu cho khách hàng chính thức ký kết hợp đồng.

 

Luật Sư Hợp Đồng đã xây dựng phương án đàm phán cho nhiều khách hàng của mình và thực tế chứng minh đã rất thành công. Không chỉ xây dựng phương án, chúng tôi còn tham gia đàm phán trực tiếp, bác bỏ những luận điểm thiếu căn cứ hoặc không rõ ràng của đối phương bằng những dẫn chiếu pháp lý rõ ràng, logic, đảm bảo việc tuân thủ hợp đồng chặt chẽ.

Với đội ngũ chuyên gia có nhiều kinh nghiệm trong hoạt động tư vấn các loại hợp đồng. Do đó, chúng tôi hoàn toàn có đủ năng lực và nhân lực để đánh giá và phân tích các rủi ro tiềm ẩn trong mỗi giao dịch cũng như mỗi hợp đồng để từ đó tư vấn về việc đàm phán ký kết hợp đồng, thẩm định, soạn thảo các điều khoản hợp đồng nhằm bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Đồng thời tránh những rủi ro, tranh chấp có thể phát sinh trong giao dịch đó cũng như tuân thủ đúng các quy định của pháp luật.

Phạm vi cung cấp dịch vụ đàm phán ký kết hợp đồng của chúng tôi bao gồm:

– Tư vấn, đánh giá mọi khía cạnh pháp lý của hợp đồng để hợp đồng được xây dựng đảm bảo đầy đủ điều kiện về hình thức cũng như nội dung phù hợp với quy định của pháp luật;

– Cùng tham gia đàm phán, thương lượng với đối tác của khách hàng để ký kết hợp đồng theo yêu cầu của khách hàng;

– Sửa đổi, soạn thảo hợp đồng trên cơ sở nội dung đàm phán giữa các bên tham gia hợp đồng, theo yêu cầu của khách hàng…;

– Thẩm định giá trị pháp lý của các hợp đồng do quý khách hàng soạn thảo hoặc đã ký kết;

– Tư vấn và hỗ trợ khách hàng giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến hợp đồng.

Tùy vào hoàn cảnh khi đàm phán thương lượng, người đàm phán có thể vận dụng những kỹ năng khác nhau. Tuy nhiên, một số quy tắc nhất định cần tuân thủ để có thể đạt được sự vững chắc cho quan hệ hợp tác:

+ Nội dung thỏa thuận đạt được sau đàm phán, thương lượng phải phù hợp với quy định pháp luật và không trái đạo đức xã hội.

+ Cần phải đàm phán thương lượng trên tinh thần thiện chí;

+ Phải hiểu rõ toàn bộ nội dung đàm phán, thương lượng;

+ Không nên tỏ ra dễ dàng chấp thuận nhiều nội dung đối tác đưa khi mới đàm phán thương lượng trong khi việc đồng ý không mang lại lợi ích gì cho mình;

+ Phải mềm dẻo sáng tạo trong đàm phán;

+ Biết chấp nhận những rủi ro có thể lường trước;

Tổn thất doanh nghiệp gặp phải khi gặp rủi ro cao hơn rất nhiều chi phí dành cho chuyên gia pháp lý. Đó là lý do quý vị nên chọn các chuyên gia tham gia đàm phán hợp đồng trước khi giao kết.

Mọi câu hỏi liên quan, quý vị vui lòng liên hệ theo thông tin bên dưới.

 

Kỹ năng đàm phán hợp đồng

Trong quá trình hành nghề, luật sư có thể được yêu cầu tham gia các cuộc đàm phán giữa khách hàng và đối tác để bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong quá trình thống nhất các thỏa thuận quan trọng liên quan đến giao dịch. Khi tham gia đàm phán, luật sư cần có một số kỹ năng và hiểu biết nhất định để giúp khách hàng đạt được các thỏa thuận có lợi hoặc ít nhất là cân bằng với phía đối tác. Kinh nghiệm là yếu tố có ảnh hưởng lớn đến khả năng đàm phán của luật sư. Trong giai đoạn tập sự, các luật sư tập sự thường được tham gia các buổi đàm phán với vai trò thư ký để có cơ hội quan sát và học hỏi kỹ năng đàm phán từ các luật sư có kinh nghiệm hơn. Khi có kinh nghiệm hơn, luật sư sẽ trực tiếp tham gia đàm phán hợp đồng.
Thông thường việc luật sư đại diện khách hàng tham gia đàm phán được chia thành hai giai đoạn: (i) giai đoạn chuẩn bị, và (ii) giai đoạn đàm phán. Bài viết này trình bày các kỹ năng trong giai đoạn chuẩn bị.
Giai đoạn chuẩn bị
Khác với việc soạn thảo văn bản tư vấn hay soạn thảo hợp đồng, việc đàm phán đòi hỏi luật sư phải có khả năng ứng biến và xử lý tình huống nhanh nhạy ngay trên “bàn đàm phán,” thay vì có thời gian đọc lại các quy định của luật và tiền lệ để kiểm tra. Về cơ bản, luật sư cần dùng kiến thức luật và các kỹ thuật đàm phán để buộc đối tác đồng ý với các yêu cầu do khách hàng của mình đưa ra và các yêu cầu đó sẽ được ghi nhận trong hợp đồng. Để làm được điều này, luật sư cần có các bước chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi thực hiện đàm phán. Việc đàm phán giữa các bên thông thường sẽ kéo dài, kể từ khi chưa có hợp đồng đến lúc hợp đồng đã được soạn thảo. Mục đích chính của giai đoạn chuẩn bị là để luật sư (i) hiểu giao dịch và thỏa thuận thương mại giữa các bên, (ii) hiểu các vấn đề pháp lý có liên quan đến giao dịch và các câu trả lời cho các vấn đề đó, (iii) biết cái mình cần và cái mà phía đối tác cần khi đàm phán, (iv) hiểu luật sư đối phương và (iv) chuẩn bị tâm lý của mình.
Hiểu giao dịch và thỏa thuận thương mại giữa các bên. Trước khi tham gia đàm phán, luật sư cần đảm bảo là mình đã hiểu cơ cấu giao dịch và các thỏa thuận giữa các bên liên quan đến giao dịch. Luật sư cần lưu ý các thỏa thuận thương mại và pháp lý liên quan đến quyền lợi của các bên, đặc biệt là quyền lợi của khách hàng mà mình đang đại diện, và lo ngại của khách hàng về các vấn đề hoặc rủi ro có thể phát sinh. Nếu việc đàm phán diễn ra sau khi hợp đồng đã được soạn thảo bởi luật sư phía bên kia, luật sư cần phải nắm rõ về các điều khoản trong hợp đồng có ý nghĩa quan trọng đối với quyền lợi của khách hàng mà mình đại diện. Luật sư cần biết và nắm rõ các thông tin trên để chuẩn bị tham gia đàm phán, bất kể điều khoản đó do mình hay phía đối tác đưa ra. Thông thường khách hàng sẽ cung cấp các thông tin trên một cách tương đối đầy đủ cho luật sư trước khi cuộc đàm phán diễn ra. Tuy nhiên, luật sư không nên chỉ lắng nghe một cách thụ động từ khách hàng. Luật sư cần hỏi lại và gợi mở cho khách hàng dựa trên kinh nghiệm của mình để hiểu giao dịch và thỏa thuận thương mại giữa các bên. Ví dụ, trong một giao dịch mua bán cổ phần, luật sư cần hiểu thỏa thuận thương mại của các bên về đối tượng mua bán (như số lượng và loại cổ phần), giá cả (như bằng tiền hay bằng hiện vật), thủ tục thanh toán (như thanh toán một lần hay nhiều lần, có đặt cọc hay không) cũng như các lợi ích kinh tế (như quyền nhận cổ tức) và phi kinh tế (như quyền biểu quyết) mà các bên mong muốn đạt được sau khi giao dịch mua bán hoàn tất.
Hiểu các vấn đề pháp lý có liên quan đến giao dịch và các giải pháp. Khi đàm phán, các bên hoặc luật sư của các bên sẽ trao đổi về các vấn đề pháp lý phát sinh từ mong muốn về mặt thương mại của các bên và cách thức giải quyết các vấn đề đó theo hướng có lợi cho phía mình. Các vấn đề pháp lý có thể liên quan đến tính hợp pháp của giao dịch, các chấp thuận cần thiết từ các cơ quan nhà nước, các chấp thuận cần thiết từ nội bộ các bên và các bên thứ ba, khả năng thi hành của các điều khoản cụ thể trong hợp đồng, v.v. Luật sư cần hiểu rõ các vấn đề pháp lý phát sinh từ giao dịch để có thể đề xuất các thỏa thuận hoặc điều khoản có lợi cho khách hàng của mình. Nếu luật sư không thể xác định hết các vấn đề pháp lý liên quan đến giao dịch thì rủi ro là phía đối tác có thể đưa ra các thỏa thuận chỉ phục vụ cho lợi ích của họ và có thể gây thiệt hại cho khách hàng sau khi ký kết hợp đồng. Nên nhớ là luật sư phía bên kia không có nghĩa vụ bảo vệ cho khách hàng của bạn và đưa ra các thỏa thuận có lợi cho tất cả các bên tham gia hợp đồng. Trong quá trình đàm phán, luật sư của mỗi bên sẽ đưa ra các thỏa thuận có lợi nhất cho khách hàng của mình và từ đó thống nhất về các giải pháp có tính cân bằng. Do vậy, luật sư không được bỏ sót các vấn đề pháp lý quan trọng khi tham gia đàm phán để bảo vệ quyền lợi tốt nhất cho khách hàng của mình.
Biết cái mình cần và cái mà phía đối tác cần khi đàm phán. Một điều quan trọng khi đàm phán là luật sư cần biết rõ mình và đối phương muốn đạt được kết quả gì thông qua cuộc đàm phán. Bước này có thể được hiểu đơn giản là luật sư cần biết người biết ta. Luật sư cần biết cái mình cần trong cuộc đàm phán để chuẩn bị các lý lẽ tranh luận phù hợp nhằm đạt được các mục đích đó. Ngoài ra, luật sư cũng cần biết cái phía đối tác cần gì để khai thác các điểm yếu đó thành lợi thế của mình khi đàm phán. Ví dụ, luật sư của bên mua biết được rằng bên bán trong giao dịch mua bán cổ phần đang cần gấp số tiền bán cổ phần để trả các khoản vay đến hạn của bên bán với ngân hàng, luật sư của bên mua có thể tạo áp lực để bên bán dễ dàng chấp nhận cho bên mua được một số đặc quyền sau khi mua cổ phần. Về cơ bản, các bên khi tham gia đàm phán đều mong muốn đạt được thỏa thuận với bên kia vì các lợi ích thương mại mà giao dịch đó có thể mang lại. Do đó, luật sư có thể tận dụng các mục đích thương mại này của phía đối tác để phục vụ cho việc đạt được các thỏa thuận có lợi nhất cho khách hàng của mình.
Luật sư có thể biết về mục đích đàm phán của đối tác thông qua các thông tin do khách hàng cung cấp hoặc các đề xuất trong dự thảo hợp đồng mà đối tác hoặc luật sư của đối tác đưa ra. Phía đối tác có thể trình bày rõ các mục đích của mình đối với từng điều khoản hoặc chỉ nêu ra yêu cầu sửa đổi các điều khoản đó. Công việc của luật sư là suy luận về mục đích của phía đối tác khi đưa ra các đề xuất như vậy để xác định kỹ thuật đàm phán phù hợp. Ngoài ra, luật sư cũng có thể tìm hiểu về các mục đích của đối tác liên quan đến giao dịch thông qua các thông tin về hoạt động của họ trên các nguồn thông tin công cộng (ví dụ, website công ty, báo chí hay Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia). Thông thường công ty đại chúng tại Việt Nam được yêu cầu công bố thông tin cho nhà đầu tư trên website của Ủy ban Chứng khoán nhà nước và Sở giao dịch chứng khoán có liên quan (ví dụ, báo cáo tài chính được kiểm toán, nghị quyết đại hội đồng cổ đông và báo cáo thường niên). Luật sư có thể sử dụng các thông tin này để phục vụ cho quá trình đàm phán của mình.
Hiểu luật sư đối phương. Nếu đối tác có thuê luật sư đại diện, luật sư cũng cần tìm hiểu thông tin về luật sư đối phương và tổ chức hành nghề luật sư mà họ làm việc. Mục đích của việc tìm hiểu này là để dự đoán khả năng đàm phán của phía đối tác dựa trên kinh nghiệm và lĩnh vực hành nghề của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư. Nếu luật sư đối phương không có nhiều kinh nghiệm tư vấn về lĩnh vực liên quan đến giao dịch, luật sư có thể lựa chọn phong cách đàm phán cạnh tranh hơn để buộc đối tác đồng ý với các thỏa thuận do mình đưa ra. Bên cạnh các thông tin chung về luật sư của đối tác, luật cũng nên tìm hiểu luật sư đối phương có điểm yếu gì và có thói quen gì khi làm việc để chuẩn bị chiến lược đàm phán phù hợp. Ví dụ, nếu luật sư đối phương dễ nghe lời khách hàng và không có chính kiến thì nên tập trung vào việc thuyết phục khách hàng phía đối phương để họ thuyết phục luật sư của mình.
Trong trường hợp luật sư hoặc tổ chức hành nghề luật sư có thể tác động vào việc lựa chọn luật sư đàm phán của đối tác, thì nên chọn luật sư (i) có kinh nghiệm trong lĩnh vực có liên quan đến giao dịch, (ii) có quan hệ trước với mình, và/hoặc (ii) không có chính kiến khi tham gia đàm phán. Điều này thường diễn ra khi hai bên khách hàng hỏi nhau về việc chọn luật sư đàm phán của nhau và khách hàng nhờ luật sư tư vấn về việc nên chọn luật sư nào của phía đối tác để tham gia đàm phán. Luật sư nên tư vấn cho khách hàng lựa chọn luật sư đối phương có kinh nghiệm liên quan đến giao dịch để có thể hoàn tất giao dịch nhanh vì luật sư của cả hai bên đều hiểu rõ về các vấn đề liên quan đến giao dịch. Bên cạnh đó, các luật sư có quan hệ trước với nhau thông thường sẽ dễ thông cảm và không gây khó khăn cho nhau trong quá trình đàm phán. Cuối cùng, mục đích của việc lựa chọn luật sư đối phương không có hoặc có ít chính kiến khi đàm phán là để dễ thuyết phục họ đồng ý với các đề xuất do mình đưa ra.
Chuẩn bị tâm lý của mình. Quá trình đàm phán thông thường có thể kéo dài trong vòng nhiều tuần, nhiều tháng hoặc cả năm. Luật sư cần chuẩn bị tâm lý để tham gia đàm phán cùng khách hàng một cách tự tin và bình tĩnh. Phong thái của luật sư đóng vai trò quan trọng trong việc thuyết phục phía đối tác đồng ý với các đề xuất do luật sư đưa ra. Một luật sư có thể không có lý lẽ tranh luận mạnh về một vấn đề, nhưng họ vẫn có thể đạt được các thỏa thuận có lợi nhất cho khách hàng của mình vì phong thái trình bày bình tĩnh, tự tin và chuyên nghiệp. Trên “bàn đàm phán,” việc luật sư mất bình tĩnh hoặc thể hiện sự lo lắng có thể làm giảm sút mức độ tin tưởng của phía đối tác với phần trình bày của luật sư. Các luật sư cần có tâm lý vững vàng trước những tình huống bất ngờ hoặc trước các câu hỏi hóc búa của đối tác.
Nói tóm lại, luật sư cần thực hiện các bước chuẩn bị trước khi tham gia đàm phán để (i) hiểu giao dịch và thỏa thuận giữa các bên, (ii) hiểu các vấn đề pháp lý có liên quan đến giao dịch và các câu trả lời cho các vấn đề đó, (iii) biết cái mình cần và cái mà phía đối tác cần khi đàm phán, (iv) hiểu luật sư đối phương và (iv) chuẩn bị tâm lý của mình. Việc quan trọng nhất là luật sư cần hiểu được giao dịch, các vấn đề pháp lý và các rủi ro có liên quan và cách thức giải quyết các vấn đề đó. Kinh nghiệm thường giúp luật sư có quá trình chuẩn bị nhanh và hiệu quả hơn trên thực tế.